CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về động lực lao động 1. Định nghĩa về động lực Thuật ngữ “động lực” được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế - xã hội, như: động lực phát triển, động cơ học tập, động lực làm việc,… Tuy nhiên, xung quanh khái niệm động lực còn có nhiều quan niệm khác nhau.
Tùy theo từng cách tiếp cận mà mỗi tác giả sẽ có một định nghĩa khác nhau về động lực. Dưới góc độ triết học, một số tác giả đã coi động lực là những yếu tố thúc đẩy xã hội vận động và phát triển. Tác giả Lê Hữu Tầng (1997) cho rằng “động lực là yếu tố thúc giục, có thể thúc đẩy sự phát triển”. Lê Thị Kim Chi (2002), “Động lực là tác động, có khả năng kích thích, khởi động; có năng lực chuyển hóa để sản sinh ra cái mới, thúc đẩy sự phát triển của xã hội và con người” hoặc “động lực phát triển của xã hội là những yếu tố tác động tích cực, thúc đẩy quá trình biến đổi và sản sinh ra cái mới trong sự vận động đi lên của xã hội”.
Dưới góc độ nhà quản trị, nhiều tác giả coi động lực là yếu tố thúc đẩy, khuyến khích và thúc đẩy mọi người làm việc chăm chỉ để đạt được mục tiêu của cá nhân cũng như của tổ chức. Theo Lawler & Suttle (1973), động lực là mong muốn và sự tự nguyện của mỗi cá nhân. Kreitner (1995), động lực là một quá trình tinh thần định hướng các hành vi cá nhân phù hợp với một mục đích nhất định. Higgins (1998) động lực là yếu tố thúc giục bên trong của mỗi cá nhân để đáp ứng những nhu cầu chưa được thoả mãn.
Nguyễn Văn Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2007), “Động lực là mong muốn và sự tự nguyện của người lao động nhằm nâng cao nỗ lực và làm việc chăm chỉ hơn để đạt được các mục tiêu của tổ chức. Động lực cá nhân là kết quả của nhiều nguồn lực cùng một lúc của mọi người như cũng như môi trường sống và làm việc của con người.” Vũ Thị Uyên (2007), “Động lực là mong muốn và sự tự nguyện của mỗi cá nhân nhằm phát huy mọi nỗ lực hướng bản thân đến mục tiêu cá nhân và mục tiêu của tổ chức”. Mặc dù có nhiều các khái niệm khác nhau xung quanh động lực, từ các viễn cảnh của sự quản lý khoa học, hầu hết các tác giả đồng ý điều đó: Động lực là cái thúc giục vì con người để làm việc chăm chỉ hơn để đạt được các mục tiêu nhất định. Biểu hiện của động lực tuyệt đối là nỗ lực của mỗi cá nhân trong quá trình làm việc.
Dựa trên sự kế thừa của khái niệm, tôi xin giới thiệu định nghĩa của riêng tôi về động lực như sau: 7 e “Động lực của con người là sự ảnh hưởng tổng hợp của các yếu tố (vật chất và tinh thần) có thể tạo động lực, kích thích sự nhiệt tình và nỗ lực làm việc của mỗi người đến việc hoàn thành các mục tiêu của cả hai cá nhân và các cơ quan. Định nghĩa của tạo động lực Theo TS Bùi Anh Tuấn, “Tạo động lực được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật của nhà quản lý tác động đến người lao động nhằm tạo động lực cho người lao động trong công việc”. Mục đích của việc tạo động lực là tăng khả năng làm việc, tăng năng suất chất lượng công việc và mang lại niềm vui, hạnh phúc cho người lao động. Đối với một tổ chức, mục tiêu của việc sử dụng lao động là có hiệu quả, năng suất và lâu dài.
Vì vậy, tổ chức luôn có những biện pháp khuyến khích người lao động nỗ lực đem hết khả năng của mình để làm việc và giữ họ gắn bó lâu dài với tổ chức. Đối với người lao động, quá trình làm việc trong tổ chức có xu hướng nhàm chán, bị ảnh hưởng bởi các yếu tố trong quan hệ lao động và quan hệ xã hội. Do đó, thái độ tích cực của họ có xu hướng giảm dần và tất yếu họ sẽ tìm cách thoát khỏi tổ chức. Để người lao động làm việc hăng say, tích cực, có tinh thần trách nhiệm cao, tổ chức phải sử dụng đúng đắn các biện pháp kích thích động lực lao động cho người lao động.
Thật vậy, khi người lao động có động lực làm việc sẽ tạo ra khả năng và tiềm năng để nâng cao năng suất lao động và hiệu quả công việc vì kết quả công việc của người lao động phụ thuộc vào sự năng động. lực lượng của họ, vào khả năng của người lao động và môi trường làm việc, phương tiện làm việc, điều kiện lao động. Thực tế, khi người lao động không có động cơ vẫn có thể hoàn thành nhiệm vụ nhưng người quản lý không chỉ muốn người lao động hoàn thành nhiệm vụ mà họ. mong muốn hơn nữa, người lao động cũng phải hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc, xuất sắc.
Vì vậy, các giải pháp tạo động lực làm việc sẽ giúp các nhà quản lý thực hiện được điều đó. Sự cần thiết việc tạo động lực làm việc Thứ nhất, động lực của người lao động có vai trò rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung. Vai trò của động lực xét trên cả 3 phương diện: người lao động, doanh nghiệp và xã hội là vô cùng quan trọng. - Về người lao động: đây có thể là việc tăng thu nhập, cải thiện điều kiện sống, bù đắp chi phí lao động mà người lao động đã bỏ ra để phát triển nghề nghiệp, tạo cơ hội thuận lợi cho cá nhân tham gia các hoạt động xã hội.
8 e - Về doanh nghiệp: Tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp khai thác tốt các nguồn lực sẵn có của mình. Sử dụng hiệu quả của nó để không ngừng nâng cao năng suất lao động, phát triển cơ sở vật chất, kỹ thuật, giảm hao phí lao động sống trong sản phẩm, từ đó hạ giá thành, giá thành sản phẩm, đẩy mạnh cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại trên thị trường. - Về mặt xã hội: Khi tạo động lực cho người lao động tăng năng suất lao động thì nền kinh tế xã hội sẽ tăng trưởng theo. Đồng thời, con người sẽ cảm thấy thích làm việc và hạnh phúc hơn khi làm việc.
Điều này sẽ chứng tỏ xã hội ngày càng văn minh và phát triển. Thứ hai, thực trạng tạo động lực làm việc giữa các doanh nghiệp chưa được quan tâm đúng mức. Nhiều tài liệu cho thấy nhiều doanh nghiệp không thực hiện tốt việc tạo động lực cho người lao động vì bị đối xử không công bằng. Hội thảo gồm 70 người đến từ 35 doanh nghiệp thuộc Hội Doanh nghiệp trẻ Hà Nội, do Liên hiệp Công nghiệp Đan Mạch tổ chức vào ngày 23 tháng 4 năm 2004.
Thành phần tham dự có Tập đoàn FPT, Cơ khí Sơn Hà, Thép Việt Bắc, Công ty Cổ phần Bóng đá Việt Nam…. nhấn mạnh vai trò động lực: khai thác và sử dụng tốt hơn năng lực cá nhân, xác định khả năng và nâng cao hiểu biết của nhân viên, thúc đẩy nhân viên làm việc hăng say hơn, tạo cơ hội để nhân viên khẳng định mình. Tuy nhiên, họ cũng chỉ ra những yếu tố kìm hãm động lực làm việc như phân công và đánh giá công việc không công bằng, không cung cấp đủ nguồn lực cho sản xuất, các chính sách không phù hợp gây ra sự tức giận của nhân viên, đôi khi những chính sách này phù hợp nhưng không rõ ràng nên họ không hợp tác hoặc hiểu sai trong việc thực hiện, không khí quá khắt khe, thiếu tiếng cười và sự chia sẻ, thiếu sự quan tâm của cấp trên với cấp dưới nên họ không muốn làm việc vì họ cần nhiều hơn lương. Để khắc phục tình trạng giảm động lực, Hội thảo cũng đưa ra một số giải pháp: bố trí công việc phù hợp với năng lực và tính cách của nhân viên, thiết kế công việc đa dạng, có tầm quan trọng nhất định, tạo cơ hội cho nhân viên phát triển và được ghi nhận trong doanh nghiệp.
Hơn nữa, chính sách nhân sự không phù hợp là yếu tố cơ bản khiến nhiều nhân viên nghỉ việc. Sự không phù hợp của chính sách có thể thấy ở một số ví dụ như thu nhập thấp hơn mức đáng phải trả nên người lao động không còn hứng thú làm việc. Thu nhập không công bằng khi so sánh với đồng nghiệp khiến nhân viên cảm thấy không hài lòng với lãnh đạo. Bên cạnh đó, các chính sách khen thưởng, thăng tiến đào tạo không rõ ràng liên quan trực tiếp đến quyền lợi và tương lai của nhân viên, phân công công việc không phù hợp với năng lực của nhân viên, giám sát và kiểm soát nhân viên quá chặt chẽ có thể làm giảm khả năng sáng tạo và tăng sự khó chịu do cảm giác không được 9 e tin tưởng, bỏ qua giữa chừng.
- Nhân viên cấp thấp, không quan tâm đến ý kiến của họ khiến họ cảm thấy “thừa thãi”, không quan tâm đến việc hỗ trợ các nguồn lực cần thiết để nhân viên thực hiện công việc của mình, nhân viên không nhận được sự hướng dẫn cụ thể như mục tiêu của mình hoặc thay đổi liên tục nên rất khó đuổi kịp thì nhân viên không phát triển được do tổ chức chưa thường xuyên quan tâm đào tạo, khiến họ cảm thấy bị “vắt kiệt” sức lực, trí tuệ thay vì cảm thấy cống hiến, nhân viên không được phát huy tính sáng tạo vì công việc quá đơn điệu, không sáng tạo. môi trường làm việc tốt, nhân viên được thử thách liên tục, với những con người xuất sắc, cấp trên giao cho mục tiêu liên tục tăng, khi cấp trên có sai sót sẽ cử cấp dưới nhận lỗi thay vì nhân viên không đồng phục, bộ máy quản lý quan liêu, phối hợp chưa tốt, thủ tục nội bộ phức tạp khiến nhân viên bị bất mãn và thiếu sót. hợp tác, người ta hay nói xấu làm nản lòng những ai đang tâm huyết với công việc. Vì vậy, việc nâng cao động lực của người lao động để thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp trong bối cảnh hiện nay là rất quan trọng.
Các lý thuyết về động lực làm việc Để tạo động lực cho người lao động, các nhà khoa học đã nghiên cứu các phương pháp tác động đến các yếu tố tạo động lực cho người lao động, thể hiện qua một số lý thuyết sau đây. Thuyết nhu cầu của Maslow (Abraham Maslow) Có thể nói Maslow là người đầu tiên phát hiện ra nhu cầu của con người.