phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 03 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tạo động lực cho ngƣời lao động trong doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng của việc tạo động lực lao động của công ty đấu giá hợp danh Đông Dƣơng Chƣơng 3: Giải pháp tạo động lực cho ngƣời lao động tại công ty đấu giá hợp danh Đông Dƣơng 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Nhu cầu “Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển” [7,tr. Nhu cầu của ngƣời lao động rất phong phú và đa dạng.
Nhu cầu và sự thỏa mãn nhu cầu đều gắn liền với sự phát triển của nền sản xuất xã hội và sự phân phối các giá trị vật chất và tinh thần trong điều kiện xã hội đó. Vì vậy dù trong nền sản xuất nào thì nhu cầu của ngƣời lao động cũng gồm hai nhu cầu chính là nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần. Nhu cầu vật chất là nhu cầu hàng đầu, đảm bảo cho ngƣời lao động có thể sống để tạo ra của cải vật chất, thỏa mãn đƣợc những nhu cầu tối thiểu cùng với sự phát triển của xã hội các nhu cầu vật chất của con ngƣời ngày càng tăng lên cả về số lƣợng và chất lƣợng. Trình độ phát triển của xã hội ngày càng cao thì nhu cầu ngày càng nhiều hơn, càng phức tạp hơn, thậm chí những nhu cầu đơn giản nhất cũng không ngừng thay đổi.
Nhu cầu về tinh thần của ngƣời lao động cũng rất phong phú, nó đòi hỏi những điều kiện để con ngƣời tồn tại và phát triển về mặt trí lực nhằm tạo ra trạng thái tâm lý thoải mái trong quá trình lao động. Trên thực tế, mặc dù hai nhân tố này là hai lĩnh vực khác biệt nhƣng chúng lại có mối quan hệ khăng khít nhau. Trong quá trình phân phối nhân tố vật chất lại chứa đựng yếu tố về tinh thần và ngƣợc lại, những động lực về tinh thần phải đƣợc thể hiện qua vật chất thì sẽ có ý nghĩa hơn. Cả hai yếu tố vật chất hay tinh thần mà nó có nhiều 10 đòi hỏi khác nhau.
Tuy nhiên tại mỗi thời điểm ngƣời lao động sẽ ƣu tiên thực hiện yêu cầu đƣợc coi là cấp thiết nhất. Nhu cầu là yếu tố thúc đẩy con ngƣời hoạt động. Nhu cầu càng cấp thiết thì khả năng chi phối con ngƣời càng cao. Về mặt quản lý nắm bắt đƣợc nhu cầu có nghĩa là đã kiểm soát đƣợc cá nhân.
Nhu cầu của một cá nhân đa dạng và vô tận, tuy nhiên ngƣời quản lý chỉ kiểm soát những nhu cầu nào đó của cá nhân đồng thời tạo ra một nhu cầu khác theo định hƣớng của nhà quản lý để đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức. Động cơ Động cơ ám chỉ những nổ lực cả bên trong lẫn bên ngoài của một con người có tác dụng khơi dậy lòng nhiệt tình và kiên trì theo đuổi một cách thức hành động đã xác định.201] Thuật ngữ động cơ thúc đẩy miêu tả một quá trình tâm sinh lý sinh ra mục đích và chỉ dẫn của hành vi. Ngƣời ta nhận thấy rằng việc thực hiện công việc của mỗi ngƣời là kết quả của sự kết hợp giữa động cơ thúc đẩy cá nhân và năng lực của chính họ. năng lực, kỹ năng, kỹ xảo có đƣợc là nhờ huấn luyện, học hỏi hoặc từ kinh nghiệm thực tế.
những yếu tố của động cơ thúc đẩy cá nhân (nhu cầu, sự thỏa mãn, kỳ vọng và mục tiêu) lại chịu sự ảnh hƣởng của thách thức, tính hấp dẫn của công việc, phần thƣởng mong muốn và cơ hội để tham gia và tự quản lý. Động cơ là kết quả của sự tƣơng tác giữa các cá nhân và tình huống. Động cơ có tác dụng chi phối, thúc đẩy ngƣời ta suy nghĩ và hành động. Trong các tình huống khác nhau sẽ có động cơ khác nhau, cá nhân khác nhau có động cơ khác nhau.
Mức độ thúc đẩy của động cơ cũng sẽ khác nhau cũng nhƣ trong tình huống khác nhau. Động lực lao động Có rất nhiều khái niệm và mỗi khái niệm đều có quan điểm khác nhau nhƣng đều làm rõ đƣợc bản chất của động lực làm việc. 11 Theo giáo trình Quản trị nhân lực của Nguyễn Vân Điềm - PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân "Động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nổ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó" [7,tr.TS Bùi Anh Tuấn: "Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sẵn sàng, nổ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chưc cũng như bản thân người lao động".57] Những khái niệm trên đây có khác nhau nhƣng đều thể hiện đƣợc bản chất của tạo động lực gồm những điểm nhƣ sau: Động lực lao động đƣợc thể hiện qua những công việc cụ thể mà mỗi ngƣời lao động đang đảm nhiệm và trong thái độ của họ đối với tổ chức.
Mỗi ngƣời lao động đảm nhiệm một công việc khác nhau có thể có động lực lao động khác nhau để làm việc tích cực hơn. Động lực lao động không hoàn toàn phụ thuộc vào những đặc điểm tính cách cá nhân nó có thể thay đổi thƣờng xuyên phụ thuộc vào các yếu tố khách quan trong công việc. Tại thời điểm này một ngƣời lao động có thể có động lực làm việc rất cao nhƣng vào một thời điểm khác động lực lao động chƣa chắc đã còn trong họ. Động lực lao động đóng vai trò quan trọng trong việc tăng năng suất lao động của doanh nghiệp.
Động lực lao động chính là nguồn nội lực thúc đẩy ngƣời lao động hăng say hơn, nhiệt tình hơn trong công việc. Tuy nhiên động lực lao động chỉ là nguồn gốc để tăng năng suất lao động chứ không phải là điều kiện để tăng năng suất lao động bởi vì điều này còn phụ thuộc vào trình độ, kỹ năng của ngƣời lao động, vào trình độ khoa học công nghệ của dây chuyền sản xuất. Nhƣ vậy động lực lao động có đƣợc không xuất phát từ bất kỳ một số 12 cƣỡng chế nào, nó không xuất phát từ các mệnh lệnh, nó cũng không biểu hiện qua lời nói mà qua các hành động cụ thể, nó xuất phát từ nội tâm của NLĐ. Do xuất phát từ bên trong nên động lực lao động rất khó xác định, nhà quản trị không thể đo lƣờng trực tiếp mà phải phán đoán thông qua các hành vi thể hiện qua bên ngoài của NLĐ.
Tạo động lực làm việc cho ngƣời lao động Theo Giáo trình Quản trị kinh doanh của GS.Nguyễn Thành Độ & PGS.Nguyễn Ngọc Huyền thì: Tạo động lực cho ngƣời lao động là tổng hợp các biện pháp quản trị nhằm tạo ra các động lực vật chất (thù lao lao động) và tinh thần cho ngƣời lao động. Tạo động lực là những kích thích nhằm thôi thúc, khuyến khích, động viên con ngƣời thực hiện những hành vi theo mục tiêu. Tạo động lực làm việc dẫn dắt nhân viên đạt đƣợc những mục tiêu đã đề ra với nỗ lực lớn nhất. Tạo động lực cho ngƣời lao động có tác động đến khả năng, tinh thần thái độ làm việc nhằm đem lại hiệu quả cao trong công việc và luôn đóng vai trò cực kỳ quan trọng với toàn bộ hoạt động quản trị kinh doanh.
Tạo động lực lao động là trách nhiệm và mục tiêu của nhà quản lý. Để có thể tạo đƣợc động lực lao động, nhà quản lý cần phải tìm hiểu đƣợc ngƣời lao động làm việc nhằm đạt đƣợc mục tiêu gì từ đó thúc đẩy động cơ lao động để tạo động lực lao động. Bên cạnh đó thông qua các biện pháp chính sách có thể khai thác, sử dụng có hiệu quả và phát huy tiềm năng nguồn nhân lực của Công ty. CÁC HỌC THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG 1.
Thuyết của Abraham Maslow về tháp nhu cầu Con ngƣời cá nhân hay con ngƣời trong công ty chủ yếu hành động theo nhu cầu. Chính sự thỏa mãn nhu cầu làm họ hài lòng và khuyến khích họ hành động. Đồng thời việc nhu cầu đƣợc thỏa mãn và thỏa mãn tối đa là mục đích hành động của con ngƣời. Theo cách xem xét đó, nhu cầu trở thành động lực quan trọng và việc tác động vào nhu cầu cá nhân sẽ thay đổi đƣợc hành vi của con ngƣời.
Nói cách khác, nhà quản lý có thể điều khiển hành vi của ngƣời lao động bằng cách dùng các công cụ hoặc biện pháp để tác động vào nhu cầu hoặc kỳ vọng của họ làm cho họ hăng hái và chăm chỉ hơn với công việc đƣợc giao, phấn chấn hơn khi thực hiện nhiệm vụ và tận tụy hơn với nhiệm vụ đảm nhận. Vào năm 1954, Abraham Maslow đã đƣa ra quan điểm về nhu cầu của con ngƣời và đi đến kết luận rằng nhu cầu của con ngƣời có thể phân thành những cấp độ nhu cầu khác biệt cơ bản dƣới dạng sơ đồ bậc thang. Học thuyết của ông đƣợc dựa trên những con ngƣời khỏe mạnh, sáng tạo, những ngƣời sử dụng tất cả tài năng, tiềm năng và năng lực trong công việc. Maslow đã chia các nhu cầu thành hai cấp: cấp cao và cấp thấp.
Nhu cầu cấp thấp là các nhu cầu sinh học và nhu cầu an toàn. Nhu cầu cấp cao bao gồm các nhu cầu xã hội, tôn trọng và tự thể hiện. Sự khác biệt giữa hai loại này là các nhu cầu cấp thấp đƣợc thỏa mãn chủ yếu từ bên ngoài trong khi đó các nhu cầu cấp cao lại đƣợc thỏa mãn chủ yếu là từ nội tại của con ngƣời.1: Tháp nhu cầu Maslow (Nguồn: Giáo trình Quản trị nhân lực tập II (2009) Tr.TS Lê Thanh Hà - Nhà xuất bản lao động-Xã hội) - Các nhu cầu sinh lý: Đây là nhu cầu cấp thấp của hệ thống thứ bậc các nhu cầu và là nhu cầu cơ bản liên quan đến các yếu tố thể lý của con ngƣời nhƣ mong muốn có đủ thức ăn, nƣớc uống, nhà ở, các nhu cầu sinh học.tại nơi làm việc, nhu cầu vật chất của ngƣời lao động phải đƣợc thỏa mãn bằng mức lƣơng hợp lý để có thể nuôi sống bản thân và gia đình, bằng bữa ăn trƣa và khoảng thời gian nghỉ ngơi để phục hồi sức khỏe, thoát khỏi sự mệt mỏi hay sự đơn điệu của công việc.