Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh. Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh Chương 3: Định hướng và giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2020 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH 1. Lý luận chung về quản lý nhà nƣớc đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài trên địa bàn tỉnh 1. Khái niệm quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Để nghiên cứu khái niệm QLNN, trước hết cần làm rõ khái niệm “quản lý”.
Thuật ngữ “quản lý” thường được hiểu theo những cách khác nhau tuỳ theo góc độ khoa học khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu. Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và khoa học tự nhiên. Mỗi lĩnh vực khoa học có định nghĩa về quản lý dưới góc độ riêng của mình và nó phát triển ngày càng sâu rộng trong mọi hoạt động của đời sống xã hội. Theo quan niệm của Các Mác: “Bất kỳ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào đó mà được tiến hành tuân theo một quy mô tương đối lớn đều cần có sự quản lý ở mức độ nhiều hay ít nhằm phối hợp những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, sự vận động này khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của cơ thể đó.
Một nhạc công tự điều khiển mình, nhưng một dàn nhạc phải có nhạc trưởng”. Như vậy theo Mác thì quản lý là nhằm phối hợp các lao động đơn lẻ để đạt được cái thống nhất của toàn bộ quá trình sản xuất. Ở đây Mác đã tiếp cận khái niệm quản lý từ góc độ mục đích của quản lý. Theo quan niệm của một số nhà khoa học nghiên cứu về quản lý hiện nay thì “Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục tiêu đã đề ra.” hay: “Quản lý là việc đạt tới mục đích của tổ chức một cách có kết quả và hiệu quả thông qua quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các nguồn lực của tổ chức’’.
Theo cách hiểu này thì quản lý là việc tổ chức, chỉ đạo các hoạt động của xã hội nhằm đạt được một mục đích của người quản lý. Như vậy, theo cách hiểu chung nhất thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt 7 được mục tiêu quản lý. Việc tác động theo cách nào còn tuỳ thuộc vào các góc độ khoa học khác nhau ,các lĩnh vực khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu. QLNN là khái niệm mang nghĩa hẹp hơn, có chủ thể, đối tượng và mục tiêu quản lý cụ thể.
“Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc XHCN”. Như vậy, QLNN là hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nước, được sửa dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội. QLNN được xem là một hoạt động chức năng của nhà nước trong quản lý xã hội và có thể xem là hoạt động chức năng đặc biệt. QLNN được hiểu theo hai nghĩa.
Theo nghĩa rộng: QLNN là toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước, từ hoạt động lập pháp, hoạt động hành pháp, đến hoạt động tư pháp. Theo nghĩa hẹp: QLNN chỉ bao gồm hoạt động hành pháp. QLNN được đề cập trong đề tài này là khái niệm QLNN theo nghĩa hẹp, tức là quản lý hành chính nhà nước. Chủ thể của QLNN là các cơ quan nhà nước (mà trước hết là các cơ quan QLNN, các cán bộ nhà nước có thẩm quyền, các tổ chức và cá nhân được Nhà nước trao quyền quản lý hành chính trong một số trường hợp cụ thể).
Khách thể của QLNN là trật tự quản lý trong lĩnh vực chấp hành và điều hành mà chủ thể quản lý tác động lên các đối tượng quản lý qua các phương pháp và công cụ quản lý nhất định để đạt được những mục tiêu định trước. Trật tự quản lý hành chính do các các văn bản quy phạm pháp luật hành chính quy định. QLNN đối với doanh nghiệp FDI là việc Nhà nước sử dụng hệ thống các công cụ và thông qua bộ máy hành chính để quản lý các doanh nghiệp FDI. Đồng thời, QLNN nhằm tạo môi trường kinh doanh ổn định, các điều kiện cần thiết đảm bảo cho sự hình thành và hoạt động của doanh nghiệp FDI.
8 Doanh nghiệp FDI cũng như các đơn vị khác ngoài sự chi phối của thị trường còn chịu sự điều chỉnh bởi hệ thống pháp luật và quản lý vĩ mô của Nhà nước kể từ khi thành lập cho đến khi giải thể. Quan hệ giữa Nhà nước và doanh nghiệp FDI trong nền kinh tế thị trường chủ yếu là quan hệ quản lý bằng pháp luật, cơ chế chính sách, kế hoạch, định hướng, hỗ trợ, điều chỉnh và khống chế trong phạm vi cần thiết để đảm bảo lợi ích chung của quốc gia. Vậy trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp FDI có sự quản lý của nhà nước. Một mặt, Nhà nước với vai trò quản lý của mình sẽ đảm bảo cho lợi ích doanh nghiệp, cạnh tranh lành mạnh, phát triển ổn định mà vẫn theo đúng định hướng phát triển của đất nước, của địa phương.
Mặt khác, các doanh nghiệp tham gia nhiều mối quan hệ lợi ích, các quan hệ này có khả năng dẫn tới xung đột mà chỉ nhà nước mới có khả năng xử lý, điều hòa các xung đột đó. Do đó, nhà nước và các doanh nghiệp FDI có mối quan hệ qua lại với nhau và tác động lẫn nhau. Trong hoạt động QLNN đối với các doanh nghiệp FDI, yếu tố quan trọng có ý nghĩa quyết định đến mức độ thành công của quản lý là xác định rõ nguyên tắc, mục tiêu quản lý, từ đó làm rõ nội dung QLNN đối với doanh nghiệp FDI. Mục tiêu của quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Việc xác định mục tiêu QLNN đối với các doanh nghiệp FDI là điểm khởi đầu và là khâu quan trọng nhất của quá trình quản lý.
QLNN đối với các doanh nghiệp FDI là nhằm giải quyết các vấn đề cơ bản trong quan hệ hợp tác kinh tế với nước ngoài và suy cho cùng là làm thế nào để loại hình doanh nghiệp này hoạt động có hiệu quả phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa bàn tiếp nhận đầu tư. Trên cơ sở đó, QLNN đối với các doanh nghiệp FDI nhằm đạt các mục tiêu sau: Thứ nhất, thông qua QLNN với các doanh nghiệp FDI sẽ phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững, thực hiện CNH - HĐH, tạo sự năng động cho nền kinh tế nhiều thành phần trong nước. Đảng ta đã khẳng định: Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, được khuyến khích phát triển. Thu hút đầu tư nước ngoài là chủ trương quan trọng, góp phần khai thác các nguồn lực trong 9 nước, mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp phục vụ sự nghiệp CNH- HĐH phát triển của đất nước.
Thứ hai, QLNN đối với doanh nghiệp FDI để giám sát các doanh nghiệp này hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật Việt Nam; trong quá trình triển khai quản lý để phát hiện những điểm chưa phù hợp giúp Nhà nước dần dần hoàn thiện hệ thống pháp luật về đầu tư, cơ chế chính sách thu hút, quản lý các doanh nghiệp FDI. Thứ ba, QLNN đối với doanh nghiệp FDI nhằm đảm bảo môi trường kinh doanh lành mạnh, cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp dựa trên khuôn khổ của pháp luật Việt Nam. Thứ tư, QLNN đối với các doanh nghiệp FDI còn nhằm thực hiện các mục tiêu trước mắt và mục tiêu lâu dài, trong đó việc thu hút vốn, công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý tiên tiến của nước ngoài phải đặt lên hàng đầu như: ưu tiên thu hút các dự án FDI có công nghệ hiện đại, tiết kiệm nguyên liệu, năng lượng, thân thiện với môi trường. Thứ năm, QLNN đối với các doanh nghiệp FDI nhằm thúc đẩy tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, chú trọng chất lượng tăng trưởng, hiệu quả và tính bền vững.
Thứ sáu, QLNN đối với các doanh nghiệp FDI nhằm tạo môi trường pháp lý, môi trường chính trị, kinh tế - xã hội ổn định, những điều kiện cần thiết và thuận lợi cho sự ra đời và hoạt động kinh doanh có hiệu quả của doanh nghiệp FDI. Từ đó phát huy mặt tích cực, đồng thời hạn chế những mặt tiêu cực có thể xảy ra trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp FDI; Bảo hộ sở hữu, bảo vệ lợi ích hợp pháp của chủ đầu tư nước ngoài, khuyến khích họ hăng hái, yên tâm đầu tư, kinh doanh và hợp tác rộng rãi có hiệu quả với nhà đầu tư trong nước. Đặc điểm của các doanh nghiệp FDI và những yêu cầu cần thiết phải tăng cường quản lí nhà nước đối với các doanh nghiệp FDI Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có nhiều loại hình và cách thức tổ chức hoạt động khác so với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước. Do vậy, ngoài các đặc điểm chung của các doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam, cần nhận thức rõ các đặc điểm hoạt động riêng của loại hình doanh nghiệp này, từ đó thấy được sự cần thiết phải tăng cường hiệu quả QLNN đối với chúng.