CHƯƠNG 1: TONG QUAN TAI LIEU NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐÓI VỚI NGUÒN VÓN HUY ĐỘNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Nguồn vốn của NHTM là toàn bộ các nguồn tiền tệ mà ngân hàng tạo lập và huy động được dé đầu tư cho vay va đáp ứng các nhu cầu khác trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Tại ngân hàng TMCP Hàng Hải VN có nghiên cứu “Nâng cao hiệu quả huy động vốn của ngân hàng TMCP Hàng Hải VN” của bộ phận nguồn vốn tuy nhiên nghiên cứu này mới đi chỉ đi sâu vào việc sử dụng nguồn vốn một cách có hiệu quả chứ chưa làm nôi bật lên được những mục tiêu của chính sách huy động vốn cũng như đưa ra được những đánh giá cho nguyên nhân những hạn chế của chính sách huy động vốn. Dé tăng được nguồn vốn huy động thì nhất thiết phải kết hợp marketing vào trong công tác huy động.
Luận văn Thạc Sỹ của tác giả Nguyễn Bá Phương (2011), trường Đại học Đà Nẵng với đề tài: “Hoàn thiện chính sách marketing tại Ngân hàng TMCP Công Thương - chi nhánh Kon Tum” cho rang Marketing là công cụ hữu hiệu nhất dé nâng cao sức cạnh tranh của ngân hang, tác giả chỉ ra Marketing ngân hàng là hành động của ngân hàng nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng, phù hợp với sự biến động của môi trường, trên cơ sở đó thực hiện các mục tiêu của ngân hàng. Trong luận văn của mình, khi nghiên cứu về thực trạng huy động vốn cũng như các chính sách marketing đối với nguồn vốn huy động thì tác giả cũng chỉ ra được những thành công nhất định đó là: Những dịch vụ chính được chú trọng, phần lớn khách hàng đều đánh giá cao ở chính sách giá cả, chính sách sản phẩm dịch vu, phân phối. Nhân viên luôn được phần đông khách hàng đánh giá là có thái độ nhiệt tình trong việc cung cấp các dịch vụ đến với khách hàng. Các sản phẩm ngân hàng phân phối đến các khách hàng cũng rất hợp lý.
Các hoạt động quan hệ công chúng mang lại hiệu quả khá cao. Tuy nhiên, trong luận văn ngoài những thành công mà ngân hàng đã đạt được thì chính sách marketing đối với nguồn vốn huy động vẫn còn tồn tại những hạn chế đó là công tác xác định thị trường mục tiêu va định vi san phẩm chưa được thực hiện một cách rõ ràng và bài bản. Ngân hàng cũng chưa chủ động trong công tác phát triển thị trường, các hoạt động quảng cáo trong thời gian qua cũng chưa thật sự mang lại hiệu quả. Sau khi nghiên cứu về chính sách marketing, thấy được những thành công và hạn chế trong công tác huy động.
Theo tác giả để tăng nguồn huy động, các chính sách marketing mà tác giả tập trung nghiên cứu đó là chính sách sản phẩm, chính sách giá, chính sách phân phối, chính sách xúc tiến truyền thông và chính sách nguồn nhân lực Luận văn Thạc Sỹ của tác giả Võ Thị Mỹ Lệ (2012), trường Đại học Đà Nang với đề tài: “ Hoàn thiện chính sách Marketing tại ngân hang công thương Việt Nam — CN Bình Định” cũng nghiên cứu về chính sách marketing tại ngân hàng Công Thuong, theo tác giả việc tiếp thị các sản phẩm ngân hàng là rất cần thiết, nếu không có hoạt động marketing thì ngân hàng sẽ bị trì trệ rất nhiều và dan mat đi tính cạnh tranh trên thị trường. Theo tác giả, marketing ngân hang là một hệ thống các biện pháp tổ chức một cách khoa học, tiến bộ dé thông qua quá trình tìm hiểu khách hàng, lựa chọn phân khúc thị trường mục tiêu nhằm đưa ra các giải pháp đồng bộ về marketing. Trong luận văn của mình, tác giả cũng đưa ra được tiến trình xây dựng chính sách marketing, ngoài việc phân tích các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô, tác giả cũng phân tích các yếu tố thuộc môi trường vi mô. Nghiên cứu chính sách marketing đối với nguồn huy động tác giả cũng đưa ra được những thành công và những hạn chế còn tồn tại.
Cũng theo tác giả, để tăng nguồn huy động tác giả cũng tập trung nghiên cứu các chính sách như: Chính sách sản pham dich vu, chinh sach gia phi, chính sách quảng bá xúc tiến dich vụ, chính sách phân phối, chính sách nguồn nhân lực. Luận văn Thạc Sỹ của tác giả Phạm Thị Thu Hiền (2013), trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân, với đề tài: “Hoàn thiện chính sách marketing tại ngân hàng TMCP Kỹ Thương” cũng cho rằng trong bối cảnh cạnh tranh quyết liệt trong lĩnh vực tải chính tiền tệ như hiện nay, dé có được nguồn vốn lớn đòi hỏi các ngân hàng thương mại phải có những chính sách marketing phù hợp dé thu hút được lượng vốn cần thiết trong nền kinh tế để phục vụ cho hoạt động của ngân hàng thương mại. Tác giả cho rằng Chính sách marketing đối với nguồn vốn huy động của ngân hàng có thé hiểu như sau: “đó là tổng thé những công cụ, quan điểm, cách thức và phương pháp, các chương trình cụ thé nhằm thu hút sự chú ý của các cá nhân, các tô chức và từ đó gửi tiền vào ngân hàng”. Trên cơ sở hai bên cùng có lợi.
Như vậy có thể dễ dàng nhận thấy chính sách marketing đối với nguồn vốn huy động của ngân hàng thương mại cũng là một phần vô cùng quan trọng trong mục tiêu huy động von của ngân hang thương mai. Ở luận văn của tác giả, chính sách marketing đối với nguồn vốn huy động tác giả cũng tập trung nghiên cứu ở chính sách sản phẩm, chính sách lãi suất, chính sách mang lưới huy động và chính sách xúc tiến hỗn hợp. Ngoài ra cũng có một số công trình luận văn thạc sỹ nghiên cứu về dé tài này như: “ Các giải pháp phát triển huy động vốn tại ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam- CN TP.HCM” của tác giả Lê Quốc Huy (2007), trường Đại học Kinh Tế TP.HCM, hay đề tài “Gia tăng nguồn vốn huy động đối với ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Minh Hiếu (2009), trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân, hay đề tài “Tăng cường vốn tại sở giao dịch ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam” của tác giả Trần Thị Phương (2010), trường Đại học Thương Mại. Có thé thấy việc đưa chính sách marketing vào trong công tác huy động vốn là vô cùng quan trọng, có marketing thì việc huy động vốn trở nên dé dàng hơn, khi đó nguồn vốn huy động của ngân hàng ngày càng được mở rộng.
Những nghiên cứu trên đã dần đánh giá được tác động của chính sách huy động vốn của ngân hàng, các nghiên cứu cũng đã đề xuất được những giải pháp với NH dé hoàn thiện chính sách tuy nhiên lại chưa làm nồi bật được sự tác động của chính sách đến với các đối tượng khách hàng khác nhau. Trong luận văn của mình, tôi cũng tập trung nghiên cứu vào các nội dung chính đó là nghiên cứu về chính sách sản phẩm, chính sách lãi suất, chính sách mạng lưới huy động, chính sách quảng bá xúc tiến dịch vụ, chính sách nguồn nhân lực. Thông qua việc nghiên cứu các chính sách này, nhằm thu hút được nguồn vốn huy động một cách hiệu quả, bền vững cả về chất lượng cũng như số lượng. Góp phần thúc đầy năng lực cạnh tranh của NHTM, cụ thé hơn là Khối ngân hàng cá nhân tại Ngân Hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam.
Giúp tăng tỷ trọng nguồn vốn huy động trong tổng nguồn vốn của ngân hàng, điều chỉnh cơ câu nguồn vốn huy động theo định hướng phát triển của ngân hàng một cách hợp lý giữa tỷ trọng nguồn vốn không kỳ hạn và có kỳ hạn, điều chỉnh đối tượng huy động hợp lý, tăng tỷ trọng huy động vốn từ nguồn khách hàng mục tiêu, khách hàng có nguồn huy động 6n định và giảm dần nguồn huy động từ các đối tượng không phải là khách hàng mục tiêu theo định hướng phát triển của ngân hàng. Huy động vốn và marketing đối với nguồn vốn huy động của NHTM 1. Vốn của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm vốn của ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là một tô chức trung gian tài chính với các chức năng cơ bản là trung gian tín dụng, trung gian thanh toán và chức năng tạotiền.
Đề thực hiện được các chức năng này va di vào hoạt động một cách hiệu quả đem lại lợi nhuận đòi hỏi NHTM phải có một lượng vốn hoạt động nhất định. Vốn của NHTM đóng vai trò quan trọng không chỉ trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng mà còn trong cả quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Vậy, nguồn vốn của NHTM là gì? Nguồn vốn của NHTM là toàn bộ các nguồn tiền tệ mà ngân hàng tạo lập và huy động được dé đầu tư cho vay và đáp ứng các nhu cầu khác trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Phân loại vốn của ngân hang thương mại Vốn của NHTM được hình thành từ các nguồn: Nguồn vốn chủ sở hữu, nguồn vốn huy động, nguồn vốn đi vay, nguồn vốn khác.
Ngoài bộ phận vốn điều lệ khi thành lập và tích lũy được trong quá trình kinh doanh, bộ phận vốn chủ yếu của ngân hàng là một phan thu nhập quốc dân tạm thời nhàn rỗi trong quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng mà người chủ sở hữu của chúng gửi vào ngân hàng dé thực hiện các mục đích khác nhau. e Nguồn vốn chủ sở hữu: Vốn chủ sở hữu là số vốn thuộc quyền sở hữu của NHTM. Vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng nhỏ trong tông nguồn vốn (thường chỉ khoảng 5%) nhưng có vai trò cực kỳ quan trọng. Do tính chất thường xuyên và ôn định nên ngân hàng có thể sử dụng nó vào mục đích khác nhau như trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật, tạo tài sản cố định phục vụ cho bản thân ngân hàng, cho vay, đầu tư, góp vốn liên doanh.
Mặt khác, vốn chủ sở hữu được coi như là tài sản đảm bảo, gây lòng tin với khách hàng. Nó là căn cứ quyết định quy mô và khối lượng vốn huy động, tính toán các chỉ tiêu đảm bảo an toàn và giới hạn mức cho vay và bảo lãnh của ngân hàng. Vốn sở hữu của NHTM bao gồm: Vốn điều lệ, vốn chủ sở hữu bổ sung và các quỹ của ngân hàng, trong đó: - Vốn điều lệ: là vốn chủ sở hữu ban đầu khi thành lập ngân hàng. Đối với mỗi loại hình sở hữu ngân hàng, vốn điều lệ có nguồn gốc khác nhau, vốn điều lệ của ngân hàng mặc dù chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn hoạt động của NHTM nhưng nó thé hiện năng lực và xu thé phát triển của ngân hàng.