Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ CÔNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 1. Các lý thuyết về đầu tư công 1. Quan điểm của trường phái tân cổ điển Quan điểm của trường phái này cho rằng nhà nước không nên can thiệp vào nền kinh tế trong quá trình phân bổ nguồn lực như vốn và lao động… mà sự vận động của thị trường sẽ thực hiện tốt hơn vai trò này. Trường phái này khẳng định một trong các ưu điểm kinh tế thị trường đó là sự phân bổ nguồn lực một cách tự động hay qua bàn tay vô hình của thị trường.
Đầu tư là một hình thức phân bổ nguồn lực trong các hình thức đó - phân bổ vốn trong nền kinh tế. Theo lý thuyết này, các đơn vị sản xuất trong nền kinh tế trong quá trình tìm đến điểm tối đa hoá lợi nhuận sẽ tìm kiếm cơ hội đầu tư tốt nhất cho chính mình, và như vậy nhà nước không cần can thiệp để tạo ra một cơ cấu đầu tư hợp lý cho doanh nghiệp vì bản thân doanh nghiệp biết rõ hơn ai hết là cần phải làm gì để đạt lợi ích tốt nhất cho chính doanh nghiệp. Cộng tất cả các đơn vị sản xuất này trong nền kinh tế sẽ hình thành một cơ cấu đầu tư của một nền kinh tế và với lập luận trên thì cơ cấu đó là hợp lý. Vai trò của nhà nước trong trường hợp này chỉ dừng lại ở mức cung cấp các hàng hoá công cộng cần thiết cho nền kinh tế như kết cấu hạ tầng kỹ thuật và kết cấu hạ tầng xã hội mà nếu để thị trường tự vận động thì không thể đáp ứng được.
Giả định của trường phái tân cổ điển là thị trường cạnh tranh hoàn hảo. Đây là thị trường mà người bán và người mua có khả năng kiểm soát giá và họ có đầy đủ thông tin về thị trường không những trong hiện tại mà cả ở tương lai. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Quan điểm ủng hộ sự can thiệp của nhà nước Quan điểm này cho rằng do sự không hoàn hảo của thị trường, nhất là các nước đang phát triển, nên sự tự thân vận động của thị trường sẽ không mang lại kết quả tối ưu.
Thông tin không hoàn hảo có thể sẽ dẫn đến sản xuất và đầu tư quá mức. Trong trường hợp này, nhà nước phải là người tổ chức cung cấp thông tin tốt để thị trường hoạt động tốt hơn. Mặt khác, ở hầu hết các nước đang phát triển, nền kinh tế còn lạc hậu, phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp, nếu để thị trường tự thân vận động thì sẽ không thể tạo ra sự phát triển công nghiệp mạnh mẽ được. Trong khi đó, chuyển dịch cơ cấu là nội dung của tiến trình công nghiệp hoá.
Nhà nước cần phải tạo ra sự khởi động ban đầu để các thành phần kinh tế phát triển, tránh những rủi ro, mất cân đối trong nền kinh tế, và sự can thiệp của Nhà nước, nhất là trong việc phân bổ các nguồn lực trong nền kinh tế là rất cần thiết. Trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế chuyển đổi, nhiều định chế của cơ chế thị trường chưa hình thành hoàn chỉnh, nên các điều kiện của thị trường cạnh tranh hoàn hảo chưa thể đáp ứng được. Mặt khác, nền kinh tế nước ta đang ở trình độ thấp, chủ yếu là nền kinh tế nông nghiệp, trình độ cư dân thấp. đòi hỏi phải có vai trò chủ động của Nhà nước trong việc định hướng phát triển các ngành kinh tế.
Nhà nước phải tạo những tiền đề nhất định như hạ tầng kỹ thuật, nguồn nhân lực. để thúc đẩy phát triển kinh tế. Một số khái niệm 1. Đầu tư Theo “Tài chính doanh nghiệp hiện đại”: “Đầu tư chính là sự hy sinh giá trị chắc chắn ở thời điểm hiện tại để đổi lấy (khả năng không chắc chắn) giá trị trong tương lai” (Trần Ngọc Thơ, 2007, Nhà xuất bản Thống kê).
Khái niệm đầu tư này đề cập đến ba yếu tố là yếu tố thời gian, yếu tố rủi ro TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 và yếu tố lợi nhuận và đầu tư ở đây được đề cập trên một bình diện rất rộng, bao gồm cả đầu tư tài chính và đầu tư thực. “Giá trị” trong khái niệm này có thể hiểu là những giá trị có thể định lượng được (vốn, tài sản.) và cả những giá trị không thể định lượng (con người, hiệu quả xã hội…). Đầu tư công Theo lý thuyết kinh tế học, đầu tư công là việc đầu tư để tạo ra năng lực sản xuất và cung ứng hàng hóa công cộng. Một số quan điểm cho rằng đầu tư công chỉ được quan niệm bao gồm các hoạt động đầu tư bằng nguồn vốn của Nhà nước vào vốn vật chất (đường xá, văn phòng, trường học, công trình công công cộng…).
Theo niên giám thống kê Việt Nam, đầu tư công là “toàn bộ những chi tiêu để làm tăng, duy trì tài sản vật chất trong một thời kỳ nhất định”, vốn đầu tư thường được thực hiện qua các dự án đầu tư và một số chương trình đầu tư quốc gia với mục đích chủ yếu là bổ sung tài sản cố định. Đầu tư được ghi chép và thống kê theo các ngành, các cấp quản lý (Trung ương, địa phương) và theo nguồn các thành phần kinh tế (đầu tư Nhà nước, đầu tư ngoài Nhà nước và đầu tư của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài). Đầu tư cũng được thống kê theo giá thực tế và giá so sánh. Như vậy, đầu tư công bao gồm: đầu tư ngân sách phân cho các bộ ngành Trung ương và phân cho các ngành địa phương; đầu tư theo các chương trình hỗ trợ mục tiêu có mục tiêu; đầu tư của doanh nghiệp nhà nước (Ngô Thắng Lợi, 2012).
Theo khoản 15 Điều 4, Luật Đầu tư công số 49/2014/QH13 ngày 18/6/2014 thì Đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Theo khoản 17, Điều 4, Luật Đầu tư công số 49/2014/QH13 ngày TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 18/6/2014 thì Hoạt động đầu tư công bao gồm lập, thẩm định, quyết định chủ trương đầu tư; lập, thẩm định, quyết định chương trình, dự án đầu tư công; lập, thẩm định, phê duyệt, giao, triển khai thực hiện kế hoạch đầu tư công; quản lý, sử dụng vốn đầu tư công; theo dõi và đánh giá, kiểm tra, thanh tra kế hoạch, chương trình, dự án đầu tư công. Trong luận văn này học viên sử dụng cách tiếp cận đầu tư công theo quy định của Luật Đầu tư công. Vốn đầu tư công Theo khoản 21, Điều 4, Luật Đầu tư công số 49/2014/QH13 ngày 18/6/2014 thì vốn đầu tư công gồm: vốn ngân sách nhà nước, vốn công trái quốc gia, vốn trái phiếu Chính phủ, vốn trái phiếu chính quyền địa phương, vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách nhà nước, các khoản vốn vay của ngân sách địa phương để đầu tư.
Dự án đầu tư công Theo khoản 13, Điều 4, Luật Đầu tư công số 49/2014/QH13 ngày 18/6/2014 thì Dự án đầu tư công là dự án sử dụng toàn bộ hoặc một phần vốn đầu tư công. Lĩnh vực đầu tư công Theo Điều 5, Luật Đầu tư công số 49/2014/QH13 thì: - Đầu tư chương trình, dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. - Đầu tư phục vụ hoạt động của cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội. - Đầu tư và hỗ trợ hoạt động cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 - Đầu tư của Nhà nước tham gia thực hiện dự án theo hình thức đối tác công tư. Tăng trưởng kinh tế Theo “Kinh tế phát triển”: “Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về quy mô sản lượng quốc gia hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người qua một thời gian nhất định” (Đinh Phi Hổ, 2006, Nhà xuất bản Thống kê). Đo lường tăng trưởng kinh tế Để biểu thị sự tăng trường kinh tế, trước đây người ta đo lường tổng của cải xã hội tạo ra trong thời kỳ nhất định bằng hai đại lượng chính: GNP (tổng sản phẩm quốc dân) và GDP (tổng sản phẩm quốc nội). GDP là tổng giá trị sản phẩm hàng hóa dịch vụ cuối cùng được tạo ra trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm), không phân biệt nguồn vốn và chủ sở hữu ở trong nước hay nước ngoài.
Các nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế Sau khi nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế của các nước phát triển lẫn các nước đang phát triển, những nhà kinh tế học đã phát hiện ra rằng động lực của phát triển kinh tế là nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên, vốn và công nghệ. Bốn nhân tố này khác nhau ở mỗi quốc gia và cách phối hợp giữa chúng cũng khác nhau đưa đến kết quả tương ứng. Nguồn nhân lực Chất lượng đầu vào của lao động tức là kỹ năng, kiến thức và kỷ luật của đội ngũ lao động là yếu tố quan trọng nhất của tăng trưởng kinh tế. Hầu hết các yếu tố khác như vốn, nguyên vật liệu, công nghệ đều có thể mua hoặc vay mượn được nhưng nguồn nhân lực thì khó có thể làm điều tương tự.
Các yếu tố như máy móc thiết bị, nguyên vật liệu hay công nghệ sản xuất chỉ có thể phát huy TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 được tối đa hiệu quả bởi đội ngũ lao động có trình độ văn hóa, có sức khỏe và kỷ luật lao động tốt. Nguồn tài nguyên thiên nhiên Một trong những yếu tố sản xuất cổ điển, những tài nguyên quan trọng nhất là đất đai, khoáng sản, đặc biệt là dầu mỏ, rừng và nguồn nước. Tài nguyên thiên nhiên có vai trò quan trọng để phát triển kinh tế, có những nước được thiên nhiên ưu đãi có trữ lượng dầu mỏ lớn có thể đạt được mức thu nhập cao chủ yếu dựa vào đó. Tuy nhiên, các nước sản xuất dầu mỏ là ngoại lệ chứ không phải quy luật, việc sở hữu nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú không quyết định một quốc gia có thu nhập cao.