đặt vấn đề từ I. Kant đã nghiên cứu và đem lại cho lôgíc học một bộ mặt mới: Lôgíc biện chứng. Nhưng cũng phải khách quan thấy rằng, những yếu tố của Lôgíc biện chứng đã có từ thời cổ đại, trong các học thuyết của Heraclite, Platon, Aristotle… Công lao của Hegel đối với Lôgíc biện chứng là ông đã đem lại cho nó một diện mạo đầu tiên mang tính hệ thống với các nguyên lý, nguyên tắc, quy luật, phạm trù và các thao tác tư duy suy luận tương ứng. Tuy được nghiên cứu một cách toàn diện, nhưng hệ thống lôgic ấy lại được trình bày trên nền tảng thế giới quan duy tâm.
Hegel đã xây dựng học thuyết biện chứng của mình bao gồm đồng thời cả phép quy nạp lẫn phép diễn dịch. Thực chất phép diễn dịch của Hegel là phép diễn dịch biện chứng - duy tâm chủ nghĩa được phát triển thông qua các mâu thuẫn. Theo ông, đây là phép suy luận sẽ đảm bảo cho nhận thức đạt tới chân lý tức “ý niệm tuyệt đối”. Hegel phân biệt ba loại hình suy luận gồm: thứ nhất là suy luận về tồn tại hiện có trong thành phần của ba phân nhánh (biểu tượng tam đoạn luận), là những cái được phân biệt tới tính chất khác 13 nhau của thuật ngữ trung gian với ba cách kết hợp cơ bản giữa “cái chung”, “cái đặc thù” và “cái đơn nhất”.
Thứ hai là suy luận phản tư được tập hợp thành bộ ba gồm: suy luận chung, suy luận quy nạp và suy luận loại suy. Thứ ba là suy luận tất nhiên nơi mà các thuật ngữ trung gian không phải là một nội dung trực tiếp nào khác mà chính là phản tư về tính quy định tự nó của các thuật ngữ biên. Ngoài ra, Hegel đã chỉ ra các yếu tố biện chứng trong các tiểu phần logic hình thức, chỉ ra mối liên hệ biện chứng giữa các loại hình tam đoạn luận và chức năng của thuật ngữ trung gian - thuật ngữ không chỉ đơn giản được dùng làm cầu nối giữa các thuật ngữ biên mà còn thể hiện sự thống nhất của cái chung và cái riêng… cách Hegel áp dụng các phạm trù “cái chung”, “cái đặc thù” và “cái riêng” vào việc phân tích các suy luận là điều rất hữu ích, K. Engels và tiếp đến là V.
Lenine cũng nhiều lần nhắc tới điều đó. Sau này, chính K.I Lenine (1870 - 1924) đã cải tạo và phát triển lôgíc học biện chứng trong đó có phép suy luận biện chứng duy tâm chủ nghĩa của Hegel và đặt lại nó trên nền tảng duy vật, đồng thời biến nó thành khoa học về những qui luật và hình thức phản ánh trong tư duy sự phát triển và biến đổi của thế giới khách quan, về những qui luật nhận thức chân lý. Ngày nay, cùng với khoa học kỹ thuật, lôgíc học đang có những bước phát triển mạnh, trong nó đang diễn ra sự phân ngành mạnh mẽ và sự liên ngành rộng rãi. Nhiều chuyên ngành mới của lôgíc học ra đời như: lôgíc đa trị, lôgíc kiến thiết, logic xác suất, lôgíc mờ, lôgíc tình thái… Sự phát triển đó đang làm cho lôgíc học ngày càng thêm phong phú, mở ra những khả năng mới trong việc ứng dụng lôgíc học vào các ngành khoa học và đời sống.
Mặc dù vậy, chúng ta vẫn không thể phủ nhận được sự đóng góp cũng như vai trò và tầm quan trọng của khoa học logic hình thức trong đó có phép suy luận logic. Nội dung cơ bản của lý thuyết suy luận logic 1. Định nghĩa và cấu tạo của suy luận logic Trong quá trình nhận thức về thế giới khách quan con người phản ánh lại các sự vật, hiện tượng thông qua hình thức tồn tại giản đơn nhất của tư duy, đó là khái niệm. Các khái niệm tham gia hình thành phán đoán nhằm phản ánh các thuộc tính cũng như các mối liên hệ giữa các đối tượng của hiện thực.
Tiếp đó, phán đoán sau khi được kiểm nghiệm hoặc chứng minh giá trị chân thực của nó một cách chắc chắn, thì lại có thể tham gia vào quá trình tư duy nhận thức để tạo ra những phán đoán mới. Quá trình tạo ra những phán đoán mới từ những phán đoán đã biết như vậy gọi là quá trình suy luận. Định nghĩa: Suy luận là hình thức cơ bản của tư duy, đồng thời cũng là một thao tác tư duy cơ bản mà nhờ đó rút ra những tri thức mới từ những tri thức đã biết [3, tr. Bản chất của suy luận là dựa trên những tri thức đã biết chắc chắn (các phán đoán đã chứng minh) liên kết chúng theo một cách thức nhất định (các qui tắc, các kiểu suy luận) để tạo ra những tri thức mới tất yếu, chân thực (các phán đoán mới) mà trước đó chưa biết.
Có thể nói, suy luận có vai trò hết sức quan trọng trong thực tiễn đời sống thường ngày và mọi lĩnh vực khoa học, nhất là trong lĩnh vực pháp lý. Giá trị lý luận cũng như giá trị thực tiễn của suy luận thể hiện ở chỗ nó đưa nhận thức đi từ cái đơn lẻ, cái ngẫu nhiên ở hiện thực khách quan đến nhận thức gián tiếp trừu tượng. Thậm chí, không cần phải kiểm nghiệm thực tiễn, bằng công cụ nhận thức tư duy có thể rút ra tri thức mới chân thực, tất yếu, đáng tin cậy. Cấu tạo của suy luận: cũng như phán đoán và khái niệm, suy luận là một trong những hình thức lôgic, thao tác cơ bản của tư duy.
Vì vậy, suy luận cũng có một cấu trúc logic riêng xác định. Bất kỳ một suy luận nào cũng bao gồm ba thành phần: tiền đề, kết luận và cơ sở logic. Tiền đề là những tri thức đã biết, mà dựa vào đó mới rút ra kết luận. Những tri thức này có được nhờ quan sát trực tiếp; nhờ tiếp thu, kế thừa tri 15 thức của các thế hệ đi trước thông qua học tập và giao tiếp xã hội, hoặc là kết quả của các quá trình nhận thức, suy luận trước đó của chính chủ thể.
Kết luận là những tri thức mới nhận được rút ra từ các tiền đề và các hệ quả của chúng. Cơ sở logic là các quy luật và các quy tắc mà việc tuân thủ chúng sẽ đảm bảo rút ra kết luận chân thực từ các tiền đề chân thực. Nói cách khác, cơ sở logic là những quy tắc, những quy luật hay những mối liên hệ tất yếu của tư tưởng cho phép rút ra kết luận tất yếu từ những tiền đề đã cho. Suy luận đúng và suy luận hợp lôgíc: suy luận hợp logic là suy luận mới chỉ đảm bảo điều kiện tuân thủ các quy tắc, quy luật logic chứ nó chưa đảm bảo điều kiện là xuất phát từ những tiền đề chân thực.
Vì vậy, chưa thể khẳng định một suy luận hợp logic là suy luận đúng được. Vậy, suy luận đúng là suy luận không chỉ tuân thủ các cơ sở lôgíc mà còn phải xuất phát từ những tiền đề chân thực phản ánh đúng về hiện thực. Hay nói cách khác, suy luận đúng là suy luận mà kết luận được rút ra và được bảo đảm giá trị chân thực một cách tất yếu từ tiền đề chân thực thông qua cơ sở hợp logic. Tóm lại, muốn có một suy luận đúng phải có suy luận hợp logic (tức suy luận phải tuân thủ đúng các quy tắc, quy luật logic) và suy luận phải xuất phát từ các tiền đề là các phán đoán chân thực.
Đó là hai điều kiện tiên quyết bảo đảm giá trị chân thực của kết luận được rút ra một cách tất yếu từ tiền đề. Sự phân biệt giữa suy luận hợp logic và suy luận đúng đắn có một ý nghĩa to lớn trong quá trình suy luận, giúp tránh khỏi những kết luận sai lầm, phiến diện. Phân loại suy luận logic Căn cứ vào cách thức suy luận đi từ tri thức chung đến tri thức riêng hay từ tri thức riêng đến tri thức chung, người ta chia suy luận thành hai dạng cơ bản là: diễn dịch và qui nạp. Ngoài ra, còn có một hình thức suy luận đặc 16 biệt dựa trên tính tương đồng giữa các dấu hiệu của các đối tượng khác nhau và được gọi là “loại suy” hay phép suy luận tương tự.
Suy luận diễn dịch Diễn dịch là suy luận trong đó lập luận được tiến hành bằng cách rút ra kết luận là những tri thức về riêng từng đối tượng từ những tri thức chung về cả lớp đối tượng. Đến lượt mình, căn cứ vào số lượng tiền đề diễn dịch còn được chia ra thành diễn dịch trực tiếp và diễn dịch gián tiếp. Diễn dịch trực tiếp là suy luận mà kết luận được rút ra từ một tiền đề (một phán đoán). Và phán đoán tiền đề ở đây có thể là đơn hoặc phức.
Diễn dịch trực tiếp được chia thành năm dạng cơ bản: phép chuyển hóa, phép đảo ngược, phép đối lập vị từ, phép đối lập chủ từ và suy luận dựa trên “hình vuông logic”. Diễn dịch gián tiếp là suy luận mà kết luận là phán đoán mới được rút ra trên cơ sở mối liên hệ logic giữa hai hay nhiều phán đoán tiền đề. Như vậy, dấu hiệu căn bản để phân biệt diễn dịch trực tiếp và diễn dịch gián tiếp là số lượng phán đoán tiền đề nếu suy luận xuất phát từ một tiền đề thì đó là suy trực tiếp, còn nếu suy luận xuất phát từ hai tiền đề trở lên thì đó là suy gián tiếp. Diễn dịch gián tiếp có rất nhiều dạng với những cấu trúc logic khác nhau.
Trong đó chúng ta chỉ nghiên cứu một số dạng cơ bản như tam đoạn luận, suy luận điều kiện, suy luận lựa chọn và suy luận lựa chọn điều kiện. Tam đoạn luận hay luận ba đoạn là suy luận diễn dịch gián tiếp trong đó kết luận là phán đoán đơn thuộc tính được rút ra từ mối liên hệ logic tất yếu giữa hai tiền đề cũng là các phán đoán đơn thuộc tính. Cấu tạo của tam đoạn luận đơn: gồm hai tiền đề và một kết luận với ba thuật ngữ là thuật ngữ lớn, thuật ngữ nhỏ và thuật ngữ giữa. Chủ từ của kết luận gọi là thuật ngữ nhỏ, ký hiệu bằng chữ S.
Vị từ của kết luận gọi là thuật ngữ lớn, ký hiệu là P. Cả hai thuật ngữ đều có mặt thêm một lần ở tiền đề nhỏ hoặc lớn, tuy nhiên ngoài chúng ra ở cả hai tiền đề còn xuất hiện thêm một 17 thuật ngữ nữa mà nó không có mặt ở kết luận. Thuật ngữ đó được gọi là thuật ngữ giữa, ký hiệu là M. Thuật ngữ “M” là thuật ngữ trung gian, nhờ nó mà hai phán đoán tiền đề liên hệ được với nhau và từ đó hai thuật ngữ “S” và “P” tìm được quan hệ của mình trong kết luận.