đặt vấn đề từ dƣới lên. Theo đó, năng lực của cộng đồng đƣợc thể hiện ở chỗ: 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Từ sáng kiến của các cộng đồng, gia tăng t nh năng động xã hội vi mô và giảm trừ độc quyền Nhà nƣớc vĩ mô và Phát triển cộng đồng khuyến khích sáng kiến từ dƣới lên, với sự kết hợp với ch nh ngƣời dân để giải quyết vấn đề của cộng đồng 38, tr. Để đạt đƣợc mục tiêu phát triển nông thôn bền vững, Chƣơng trình Nông thôn mới đƣợc coi là sự cụ thể hóa của chiến lƣợc phát triển nông thôn của Đảng và Nhà nƣớc Việt Nam. Vì thế, nông thôn mới không chỉ là một chƣơng trình hành động quốc gia mà cũng đồng thời nhanh chóng trở thành một chủ đề đƣợc nhiều nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu, đóng góp cả về mặt lý luận và thực tiễn cũng nhƣ các gợi ý chính sách.
Chẳng hạn, từ nghiên cứu thực tế về quá trình xây dựng th điểm MHNTM tại ba xã: xã Tân Thịnh, huyện ạng Giang, tỉnh B c Giang đại diện cho v ng trung du ; xã Tam Phƣớc, huyện Ph Ninh, tỉnh Quảng Nam; xã Mỹ ong Nam, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh, nhóm nghiên cứu do tác giả Trần Minh Yến chủ biên) trong công trình: â dựng n ng th n mới kh o s t và nh gi , xuất bản năm 2013, đã đƣa ra những đánh giá bƣớc đầu sau 3 năm thực hiện th điểm XDNTM triển khai từ năm 2009 và kết thúc cuối năm 2011. Khảo sát hiện trạng, đánh giá những ƣu điểm và hạn chế từ quá trình xây dựng nông thôn mới tại địa bàn, các tác giả cho rằng yếu tố cốt l i tạo nên sự thành công của xây dựng nông thôn mới là nguồn nhân lực, nguồn vốn và vai trò ngƣời dân 92, tr. R ràng trong quá trình XDNTM, cộng đồng nông thôn nói chung và ngƣời nông dân nói riêng đóng vai trò không thể thay thế đƣợc trong mối quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân và nông thôn, nông dân là chủ thể của quá trình phát triển… 25 , và theo tác giả Hồ Xuân H ng trong bài viết chương trình mục tiêu qu c gia xây dựng nông thôn mới đã chỉ ra rằng xây dựng nông thôn mới, không ai khác ngoài nông dân, Đảng, ch nh quyền các cấp không thể làm thay đƣợc 43, tr. Tuy nhiên, bối cảnh xã hội nông thôn và ngƣời nông dân Việt Nam còn bị ràng buộc bởi các định chế xã hội có t nh truyền thống của làng họ hàng, hàng xóm, láng giềng thì vai trò của ngƣời nông dân trong phát triển nông 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thôn cũng bị ảnh hƣởng không nhỏ.
Giới nghiên cứu cho rằng những định chế xã hội này vừa là một cơ chế bảo hiểm, phúc lợi lại vừa giữ vai trò kiểm soát xã hội đối với ngƣời nông dân; một mặt có tác dụng tạo nên truyền thống cố kết cộng đồng bền chặt trong nội bộ làng, nhƣng mặt khác ch nh tình cảm cộng đồng đó, khi bị đẩy tới cực hạn, lại có nguy cơ trở thành một thứ chủ nghĩa địa phƣơng, trở ngại cho các nỗ lực huy động nông dân tham gia vào các quá trình tiến bộ xã hội rộng lớn hơn [78, tr. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm nông thôn và nông thôn mới Khái ni m nông thôn: Một trong những phƣơng pháp ch nh để định nghĩa nông thôn là phƣơng pháp sử dụng định nghĩa địa chính trị. Theo đó, thành thị đƣợc xác định gồm các trung tâm của tỉnh, huyện, và các vùng còn lại đƣợc xác định là nông thôn.
Tuy nhiên, cũng có một số quốc gia sử dụng cách tính mức độ sẵn có của các loại hình dịch vụ để xác định vùng thành thị, phần còn lại là nông thôn. Ở Việt Nam, theo quy định về hành chính và thống kê, thì nông thôn là những địa bàn thuộc xã (những địa bàn thuộc phƣờng hoặc thị trấn đƣợc quy định là khu vực thành thị. Cho đến nay, nông thôn ở nƣớc ta đƣợc hiểu là nơi sinh sống và làm việc của một cộng đồng bao gồm chủ yếu là nông dân, là vùng sản xuất nông nghiệp là ch nh. Nông thôn có cơ cấu hạ tầng, trình độ tiếp cận thị trƣờng, trình độ sản xuất hàng hóa thấp hơn so với thành thị.
Hiện nay, khái niệm nông thôn đƣợc hiểu là: Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn, đƣợc quản lý bởi cấp hành ch nh cơ sở là ủy ban nhân dân xã 13]. Theo tác giả Tống Văn Chung 14, tr. 115-116 , nông thôn đƣợc kh c họa bởi những nét đặc trƣng nổi bật sau: Thứ nh t, nông thôn g n với một nghề lao động xã hội truyền thống, đặc trƣng và nổi trội là hoạt động sản xuất nông nghiệp. Điều này thể hiện ở chỗ, phƣơng tiện sản xuất cơ bản và chủ yếu của nông thôn là đất đai.
Ch nh vì vậy, nó tạo ra sự g n kết nghề nghiệp của ngƣời dân nông thôn với nơi chôn nhau c t rốn 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của mình. Thứ hai, trình độ phát triển của nền sản xuất xã hội ở nông thôn do lịch sử để lại gồm những tụ điểm quần cƣ thƣờng có quy mô nhỏ về mặt số lƣợng. Thứ ba, mật độ dân cƣ trên ki-lô-mét vuông thấp. Thứ tư, ở nông thôn có một môi trƣờng tự nhiên ƣu trội, con ngƣời gần gũi với tự nhiên hơn, và nó luôn đƣợc thi vị hóa thành những hình ảnh của nông thôn: cây đa, bến nƣớc, con đò, dòng sông…Thứ năm, nông thôn có một lối sống đặc thù của mình – lối sống nông thôn, lối sống của các cộng đồng xã hội đƣợc hình thành chủ yếu trên cơ sở của hoạt động lao động nông nghiệp.
Thứ sáu, chính lối sống này đã quy định thành một đặc trƣng nổi trội của nông thôn-tính cố kết cộng đồng. Nhờ những đặc trƣng này làm cho nó phân biệt hẳn với cộng đồng đô thị. Thứ b y, chính lối sống nông thôn làm cho cung cách ứng xử xã hội nặng về luật tục, về lễ nghi hơn là t nh pháp lý. Thứ tám, đặc trƣng không thể thiếu đƣợc của nông thôn, đó là văn hóa nông thôn một loại hình văn hóa đặc th mang đậm nét dân gian, nét truyền thống dân tộc.
Khái ni m nông thôn mới: Nông thôn mới là gì? Nghị quyết số 26-NQ/TW nêu rõ mục tiêu nhƣ sau: Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, g n nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản s c văn hóa dân tộc, dân tr đƣợc nâng cao, môi trƣờng sinh thái đƣợc bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dƣới sự lãnh đạo của Đảng đƣợc tăng cƣờng 25]. Khi bàn về khái niệm nông thôn mới, nhóm nghiên cứu do tác giả Trần Minh Yến cho rằng: nông thôn mới trƣớc tiên nó phải là nông thôn, không phải là thị tứ, trị trấn, thị xã, thành phố và khác với nông thôn truyền thống hiện nay, có thể khái quát gọn theo các nội dung sau: thứ nhất, đó là làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; đảm bảo không gian nông thôn phải mang đặc trƣng nông thôn với khuôn viên, cảnh quan của làng xã, của gia đình nông thôn; thứ hai, sản xuất phải phát triển bền vững theo hƣớng kinh tế hàng hóa; thu nhập đảm bảo, công ăn việc làm ổn định, không có hộ đói; thứ ba, đời sống vật chất và tinh thần của ngƣời dân nông thôn ngày càng cao; thứ tƣ, bảo vệ và phát triển tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trƣờng, bảo tồn và khai thác cảnh quan tự nhiên, duy trì cân bằng sinh thái; thứ năm, bản s c văn hóa dân tộc đƣợc giữ gìn và phát triển, trong đó bảo tồn và phát triển các di sản văn hóa truyền thống của các dân tộc, các địa phƣơng; thứ sáu, xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ [92, tr. Nhƣ vậy, NTM đƣợc hiểu trƣớc hết là địa bàn cƣ trú của cƣ dân nông thôn với nghề nghiệp chính là các hoạt động sản xuất nông nghiệp. Là làng quê sạch đẹp, văn minh với những hoạt động kinh tế đem lại hiệu quả đồng thời bảo đảm tính bền vững và bảo vệ môi trƣờng sinh thái; đời sống vật chất và tinh thần của ngƣời dân không ngừng đƣợc nâng cao; lối sống và truyền thống văn hóa tốt đẹp đƣợc giữ gìn; an ninh trật tự ở nông thôn đƣợc giữ vững.
Khái niệm cộng đồng Trong đời sống xã hội, khái niệm cộng đồng đƣợc sử dụng một cách tƣơng đối rộng rãi, để chỉ nhiều đối tƣợng có những đặc điểm tƣơng đối khác nhau về quy mô, đặc tính xã hội. Rộng nhất là nói đến những khối tập hợp ngƣời, các liên minh rộng lớn nhƣ cộng đồng thế giới, cộng đồng Châu Âu, cộng đồng các nƣớc Ả-rập, cộng đồng các nƣớc SE N…; nhỏ hơn, danh từ đƣợc áp dụng cho một kiểu/hạng xã hội, căn cứ vào những đặc t nh tƣơng đồng về s c tộc, hay tôn giáo… nhƣ cộng đồng ngƣời Do Thái, cộng đồng ngƣời da đen tại Chicago, cộng đồng ngƣời Thanh giáo [38, tr.15-16], hay gần đây khái niệm cộng đồng mạng cũng đƣợc d ng để chỉ những ngƣời sử dụng internet; nhỏ hơn nữa, danh từ cộng đồng đƣợc sử dụng cho các đơn vị xã hội cơ bản là gia đình, làng hay một nhóm xã hội nào đó có những đặc tính xã hội chung về lý tƣởng xã hội, lứa tuổi, giới, nghề nghiệp, vị thế xã hội nhƣ các đảng phái, nhóm những ngƣời lái xe, nhóm ngƣời khiếm thị… Theo Tô Duy Hợp và ƣơng Hồng Quang, khái niệm cộng đồng đƣợc hiểu là: Bao gồm các thực thể xã hội có cơ cấu tổ chức chặt chẽ cho đến các tổ chức ít có cấu trúc chặt chẽ, là một nhóm xã hội có lúc khá phân tán, đƣợc liên kết bằng lợi ích chung trong một không gian tạm thời, dài hay ng n nhƣ phong trào quần chúng, công chúng, khán giả, đám đông 38, tr. 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cũng theo hai tác giả này, khái niệm cộng đồng đƣợc hiểu theo hai cách: một là cộng đồng tính và hai là cộng đồng thể, tuy là hai cái khác nhau nhƣng không đối lập nhau.