Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan những nghiên cứu trước đây. Chương 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Nội dung và kết quả nghiên cứu. Chương 5: Kết luận và khuyến nghị.4 Mục tiêu nghiên cứu Câu hỏi nghiên cứu: Mục tiêu của đề tài là nhằm giải quyết các câu hỏi nghiên cứu sau: Thứ nhất, đa dạng giới tính trong ban điều hành có ảnh hưởng như thế nào đến chi phí đại diện? Thứ hai, đa dạng giới tính có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của công ty hay không? Thứ ba, ảnh hưởng của đa dạng giới tính đến chi phí đại diện có khác nhau giữa thị trường cạnh tranh mạnh và yếu hay không? 1.5 Hướng phát triển của đề tài Hiện nay có rất hiếm đề tài nghiên cứu về mối quan hệ giữa đa dạng giới tính và chi phí đại diện đặc biệt trong các nhóm thị trường khác nhau.
Các nghiên cứu trước đây chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu mối quan hệ giữa đa dạng giới tính với hiệu quả hoạt động. Vấn đề xem xét các yếu tố về con người trong BĐH là rất cần thiết, vì đây là bộ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 phận quan trọng thực hiện các quyết định ảnh hưởng đến toàn bộ tình hình hoạt động của công ty. Đề tài đã cố gắng hệ thống các nhân tố ảnh hưởng đến chi phí đại diện và hiệu quả hoạt động. Đồng thời, đề tài cũng bổ sung và loại trừ các yếu tố làm ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu.
Tuy nhiên, trong quá trình tìm hiểu vẫn còn nhận thấy vài nhân tố ảnh hưởng khá lớn đến chi phí đại diện và hiệu quả hoạt động như các thuộc tính phi quan sát bao gồm trình độ, kinh nghiệm, độ tuổi của thành viên BĐH. Nhưng hiện nay chưa có nghiên cứu cụ thể nào có thể lượng hóa được các thuộc tính phi quan sát này. Hy vọng trong tương lai gần có thể lượng hóa được các các thuộc tính ấy để đề tài nghiên cứu sau hoàn thiện hơn. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Chương 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Tác động của đa dạng giới tính đến chi phí đại diện 2.1 Sự đa dạng giới tính trong BĐH Trong một nền kinh tế phát triển ở trình độ cao, quy mô và mức độ phức tạp của các doanh nghiệp khiến cho việc điều hành trực tiếp của các doanh nghiệp trở nên không khả thi và thiếu hiệu quả.
Việc điều hành những doanh nghiệp quy mô lớn và phức tạp đòi hỏi những kỹ năng và phẩm chất mà không phải nhà quản lý nào cũng có được. Giới tính của ban điều hành đang là vấn đề được tranh luận khá nhiều. Các nhà nghiên cứu ủng hộ sự hiện diện của thành viên nữ trong ban điều hành vì phụ nữ có hiểu biết và nắm bắt rất tốt về xu hướng thị trường tiêu dùng và tâm lí khách hàng để đưa ra chiến lược không những cải thiện hoạt động tài chính mà còn giúp ích cho hoạt động xã hội, và cộng đồng (Bruke, 2003; Stephenson, 2004). Một số nghiên cứu phát hiện thành viên nữ mang đến nhiều cải tiến và ra quyết định có chất lượng cao hơn.
Sự thay đổi quan điểm của xã hội về nữ giới cũng như những quy định pháp luật về bình đẳng giới đã có tác động tích cực trong việc tăng số phụ nữ trong các ban điều hành công ty (Adam & Ferreira, 2009; Kang & cộng sự, 2007). Tuy nhiên, tỷ lệ khá thấp của thành viên nữ trong ban điều hành vẫn tồn tại ở nhiều nơi bao gồm cả nước phát triển và đang phát triển. Theo báo cáo của Deloitte (2013), tỷ lệ này năm 2011 ở Anh là 15% đối với 100 công ty niêm yết có giá trị vốn hóa lớn nhất (chỉ số FTSE 100), Tây Ban Nha là 11,9% đối với 35 công ty niêm yết có giá trị vốn hóa lớn nhất (chỉ số IBEX 35), Y! là 6% đối với các công ty niêm yết có giá trị vốn hóa lớn nhất , ở Hồng Kông là 9,4% đối với mẫu của 75 công ty niêm yết, Ấn Độ 5%, Malaysia 6% và Singapore 7%. Việt Nam cũng theo xu hướng đó, năm 2007 Việt Nam cũng đã ban hành Luật bình đẳng giới gồm 6 chương, 44 điều.
Một số học giả như Adam & Ferreira (2009) chỉ ra tỷ lệ thấp của phụ nữ trong ban điều hành ở các công ty thể hiện sự hiện diện của phụ nữ như là để hợp TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 thức hóa việc đa dạng giới tính chứ không có ảnh hưởng trong ban điều hành công ty. Hạn chế này, do đó làm ảnh hưởng của thành viên nữ trong ban điều hành đối với việc nâng cao hiệu quả công ty. Theo một báo cao tập trung vào phụ nữ châu Á của Cộng đồng doanh nghiệp (2009), tỷ lệ nữ ở vị trí cấp cao là rất thấp trong các quốc gia như Trung Quốc là 13%, 8,2% Ấn Độ, 8,9% Nhật Bản và 17,3% ở Singapore. Do sự phát triển kinh tế nhanh chóng của các quốc gia châu Á, đặc biệt là Trung Quốc và Ấn Độ có nhu cầu lớn hơn về lực lượng lao động đã tạo ra nhiều cơ hội hơn cho phụ nữ.
Tuy nhiên phụ nữ châu Á phải đối mặt với một thách thức là có một mức độ lớn hơn về việc phân biệt đối xử đối với phụ nữ vì thành kiến theo lối cũ và pháp luật về cơ hội bình đẳng không theo kịp nước ngoài. Lý thuyết phụ thuộc nguồn nhân lực quan niệm công ty là một hệ thống mở và nó phụ thuộc vào nguồn lực bên ngoài (Pfeffer & Salancik, 1978). Lý thuyết này nhấn mạnh ban điều hành công ty đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý nguồn lực bên ngoài, giảm sự không chắc chắn và rủi ro liên quan đến môi trường kinh doanh. Pfeffer & Salancik, (1978) làm rõ ba nguồn quan trọng nhất do ban điều hành mang lại là sự tư vấn, tính tuân thủ pháp luật, và kênh thông tin giữa công ty và các tổ chức bên ngoài.
Theo lập luận này, sự hiện diện của phụ nữ trong ban điều hành được mong đợi vì họ đem lại nguồn lực dồi dào cho công ty chẳng hạn như uy tín, tính tuân thủ pháp luật, kỹ năng, kiến thức, sự kết nối với những nguồn lực phụ thuộc từ bên ngoài tốt hơn so với nam giới. Điều này mang lại lợi ích cho công ty trong việc giảm rủi ro liên quan đến môi trường kinh doanh.2 Lý thuyết chi phí đại diện Một trong những lý thuyết ra đời sớm nhất về chi phí đại diện là nghiên cứu của Jensen à Meckling (1976). Lý thuyết đại diện đề cập đến mối quan hệ hợp đồng giữa một bên là người chủ sở hữu vốn của công ty và một bên khác là người quản lý – người TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 đại diện thực hiện các quyết định của công ty. Lý thuyết đại diện nêu ra vấn đề chính là làm thế nào để người đại diện làm việc vì lợi ích cao nhất cho người chủ khi họ có lợi thế về thông tin hơn người chủ và có những lợi ích khác với lợi ích của những ông chủ này.
Trong các công ty cổ phần, sự phân định giữa quyền sở hữu và quyền quản lý là điều hết sức cần thiết.1 Sự phân chia quyền sở hữu và quyền quản lý trong công ty cổ phần Đầu tiên chúng ta sẽ xem xét vai trò của người sở hữu và người quản lý trong công ty. Quản lý là một dạng của lao động nhưng với một vai trò đặc biệt là điều phối hoạt động của các yếu tố đầu vào và thực hiện các hợp đồng thỏa thuận giữa các yếu tố đầu vào đó, tất cả những điều này có thể gọi là “ ra quyết định”. Người quản lý cho công ty thuê một loại tài sản có giá trị của bản thân – nguồn vốn con người và giá thuê được quyết định bởi thị trường lao động, tùy thuộc vào mức độ thành công hay thất bại của công ty. Nhiệm vụ của người quản lý là giám sát các yêu tố và đảm bảo khả năng tồn tại và sinh lời của công ty.
Người quản ký có thể không đối mặt ngay với sự tăng hay giảm lương do bởi tình hình thành công hay thất bại của công ty trong hiện tại, nhưng sự thành công hay thất bại của công ty trong hiện tại sẽ ảnh hưởng đến mức lương tương lai của người quản lý. Điều này trói buộc người quản lý vào việc đưa công ty đến thành công. Người sở hữu là người cung cấp vốn cho công ty hoạt động phát triển và kỳ vọng sẽ nhận được những mức lợi tức nhất định từ công ty trong tương lai. Người sở hữu là người chịu những ảnh hưởng trực tiếp nhất từ sự thành công hay thất bại của công ty.
Tóm lại, việc người sở hữu giảm thiểu rủi ro của mình càng làm nhấn mạnh vai trò của sự phân chia giữa quyền sở hữu và quyền quản lý của một công ty. Vì thế việc phân định quyền sở hữu và quyền quản lý là rất cần thiết. Thứ nhất, các công ty lớn thường có thể có trăm ngàn cổ đông, do vậy không cách nào thoả mãn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 việc tất cả các cổ đông cùng tham gia quản lý. Thứ hai, đôi khi việc điều hành trực tiếp của các chủ doanh nghiệp trở nên thiếu khả thi và không hiệu quả.
Việc điều hành những doanh nghiệp có quy mô lớn và phức tạp đòi hỏi những kỹ năng phẩm chất mà không phải nhà đầu tư nào cũng có được. Thực tế đó dẫn tới sự tách biệt giữa quyền quản lý và quyền kiểm soát. Những người có vốn nhưng không có khả năng quản lý đầu tư vào các doanh nghiệp - trở thành ông chủ. Các ông chủ này sẽ thuê những chuyên gia có đủ năng lực đến điều hành doanh nghiệp của mình.
Những người này có chuyên môn (và thường có kinh nghiệm về lĩnh vực mà họ đảm nhận) nên sẽ được người chủ giao quyền quản lý và trở thành người đại diện. Từ đây, phát sinh quan hệ giữa người chủ và người đại diện. Thứ ba, việc phân định giữa quyền sở hữu và quyền quản lý cho phép chia nhỏ quyền sở hữu theo những phần vốn góp bằng nhau và từ đó sự thay đổi chuyển nhượng quyền sở hữu sẽ không gây phiền phức đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Chính vì thế, việc công ty thuê những người quản lý chuyên nghiệp để điều hành công ty của mình theo hướng hiệu quả nhất nhưng vẫn đảm bảo mục tiêu ban đầu của các chủ sở hữu.