Chương 1: Trình bày cơ sở lí luận để giải quyết các vấn đề chính của luận văn. Phần này gồm có: - Lý thuyết về hành vi ngôn ngữ và nguyên tắc lịch sự. - Vấn đề nghĩa tình thái trong ngôn ngữ. Chương 2: Khái quát về TTTTCC tiếng Việt, đối tƣợng nghiên cứu chính của luận văn và phƣơng tiện tƣơng đƣơng của nó trong tiếng Hán là ngữ khí từ.
Từ đó bƣớc đầu xác định những tƣơng đồng và dị biệt giữa hai đối tƣợng. Ở chƣơng này luận văn chủ yếu giải quyết vấn đề thuật ngữ cũng nhƣ ngữ nghĩa và sự phân nhóm của các TTTTCC tiếng Việt từ đó xác lập bản danh sách tƣơng đối các TTTT sẽ đƣợc miêu tả so sánh đối chiếu trong chƣơng sau. Đồng thời xác định và đƣa ra miêu tả mang tính tổng quan các ngữ khí từ tiếng Hán tƣơng ứng, có tính chất là nền tảng cho sự đối chiếu. Những tƣơng đồng và dị biệt đƣợc xác định ở đây cũng có ý nghĩa quan trọng.
Chương 3: Luận văn xác lập khung miêu tả ngữ nghĩa các TTTTCC tiếng Việt và tiến hành miêu tả chi tiết 18 TTTT có tần số xuất hiện nhiều nhất trong hội thoại tiếng Việt. Đây không chỉ là sự miêu tả đơn thuần có tính chất từ điển mà là sự miêu tả trong so sánh đối chiếu với các ngữ khí từ tiếng Hán để tìm ra nét chung cũng nhƣ nét đặc thù của tiểu từ tiếng Việt. Chương 4: Trên cơ sở kết quả nghiên cứu lý thuyết kết hợp với điều tra thực tế trình độ nắm bắt và mức độ sử dụng TTTTCC tiếng Việt của học viên nƣớc ngoài, ở chƣơng này chúng tôi sẽ nêu lên thực trạng của việc học và dạy tiếng Việt, cụ thể là học và dạy về TTTTCC ở Việt nam. Chƣơng này cũng nêu một cách khái quát những bất cập, khiếm khuyết của giáo trình cũng nhƣ trong phƣơng pháp giảng dạy của giáo viên để làm cơ sở đƣa ra một vài kiến nghị nhằm góp phần nâng cao chất lƣợng dạy và học.
10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Lý thuyết về hành vi ngôn ngữ và nguyên tắc lịch sự Xem xét ngôn ngữ trong hoạt động và hành chức, trong mối tƣơng quan giữa ngƣời nói- ngƣời nghe - ngữ cảnh nói chung và nghĩa tình thái của câu nói riêng thì sẽ là thiếu thấu đáo nếu không nói đến lí thuyết hành vi ngôn ngữ. Vì vậy trƣớc khi trình bày về chức năng tạo lập nghĩa tình thái của TTTTCC tiếng Việt (trong sự đối chiếu với phƣơng tiện diễn đạt tƣơng ứng của tiếng Hán- ngữ khí từ) luận văn xin đƣợc nêu khái quát vài nét cơ bản về lý thuyết hành vi ngôn ngữ và nguyên tắc lịch sự. Lý thuyết hành vi ngôn ngữ Nhƣ chúng ta đều biết, với tác phẩm “How to do things with words” (Tạm dịch: Những hành vi ngôn ngữ) John.
Austin đã đƣợc coi là ngƣời đặt nền móng cho lý thuyết hành vi ngôn ngữ. Lần đầu tiên sự phân biệt quá rạch ròi hai phạm trù ngôn ngữ và lời nói của F. Saussure đƣợc điều chính, không còn là một đƣờng ranh giới cứng nhắc. Theo đó, đối tƣợng ngôn ngữ đƣợc bàn luận không chỉ đóng khung trong những cấu trúc trừu tƣợng đơn thuần mà còn gắn liền với thực tiễn hành ngôn sinh động.
Có thể nói, chỉ với lí thuyết hành vi ngôn ngữ thì ngôn ngữ mới thực sự đƣợc nhìn nhận nhƣ là phƣơng tiện giao tiếp quan trọng nhất của con ngƣời. Để xác định đƣợc nội dung thực sự của câu nói, Austin cho rằng phải tính đến yếu tố chủ quan trong ngôn ngữ và những nhân tố tình huống khác. Cùng một phát ngôn, nhƣng đƣợc nói ra trong những tình huống khác nhau, hay kèm theo sắc thái tình cảm, đánh giá khác nhau của ngƣời nói mà đƣợc hiểu nhƣ một lời cảnh báo, một lời đe dọa hay chỉ là một thông báo đơn thuần. Xét ví dụ, phát ngôn: - Dao này sắc lắm đấy! sẽ chuyển tải những thông điệp giao tiếp rất khác nhau.
Nếu đây là lời mẹ nói với con thì mang nghĩa nhƣ một lời cảnh báo: đừng nghịch hay đừng sờ vào, sẽ đứt tay. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhƣng nếu trong trƣờng hợp hai thanh niên đang cãi lỗn, đánh đấm lẫn nhau và một ngƣời giơ con dao lên và nói thì lại mang hàm ý đe dọa. Có thể khái quát tƣ tƣởng cốt lõi của Austin nhƣ sau: nói là hành động, khi ta nói một câu, là ta đã thực hiện một hành vi ngôn ngữ nào đó, đặt trong một môi trƣờng cụ thể, với những qui định đã đƣợc xác lập về mặt văn hóa, đạo đức, tôn giáo, tập quán. Ví dụ khác, khi ngƣời Việt nói “Chị đi chợ về đấy à?” / “Chị đi đâu đấy?” thƣờng họ không nhằm mục đích hỏi nhƣ đƣợc thể hiện trên chữ viết, mà thực chất là họ đã thực hiện hành vi chào, nhằm xác lập một mối quan hệ kiểm thông (phatic) nào đó (tức xác lập hay củng cố một quan hệ hợp tác, thân tình nào đó đối với ngƣời nghe).
Không hiểu điều này, ngƣời nƣớc ngoài rất dễ hiểu lầm là ngƣời Việt hay tò mò, nhòm ngó việc riêng của ngƣời khác. Austin còn cho rằng khi nói ra một câu đồng nghĩa với việc ta thực hiện ba loại hành vi ngôn ngữ: hành vi tạo lời, hành vi tại lời và hành vi mƣợn lời. - Hành vi tạo lời: là hành vi sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ nhƣ: ngữ âm, từ, các tổ hợp từ và các kiểu kết hợp từ thành câu…để tạo ra một phát ngôn thành phẩm với một dạng thức cụ thể và một ý nghĩa ít nhiều xác định. - Hành vi tại lời: là hành vi ngƣời nói thực hiện ngay khi nói năng nhằm gây ra một phản ứng ngôn ngữ tƣơng ứng ở ngƣời nghe, nhƣ: ra lệnh, hứa hẹn… - Hành vi mượn lời: là hành vi mƣợn phƣơng tiện ngôn ngữ tạo ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ mà ngƣời nói chủ ý muốn gây ra ở ngƣời nghe.
Chẳng hạn một lời hứa hẹn sẽ làm ngƣời nghe thấy phấn chấn, mừng rỡ… Mỗi hành vi này lại đƣợc chia thành các nhóm khác nhau dựa vào hƣớng khớp ghép với hiện thực và điều kiện thuận ngôn. Searle – môn đệ Searle của Austin là ngƣời đã nêu ra một cách chi tiết các điều kiện thuận ngôn (felicitous conditions) cho việc thực hiện một hành vi ngôn ngữ nào đó. Theo ông, để một hành vi ngôn ngữ nào đó đƣợc thực hiện, nó cần thỏa mãn 4 điều kiện thuận ngôn sau đây: a. Điều kiện mệnh đề (propositional condition).
12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chẳng hạn, đối với hành vi xác quyết, thì điều kiện mệnh đề sẽ là: “cái mệnh đề đƣợc biểu thị sẽ tất yếu không phải hiển nhiên đúng đối với cả ngƣời nói và ngƣời nghe trong ngữ cảnh phát ngôn” (The expressed proposition must not be obviously true to both the speaker and the hearer in the context of utterance. Điều kiện chuẩn bị (preparative condition). Chẳng hạn, đối với hành vi xác quyết thì “ngƣời nói tất nhiên phải đƣa ra đƣợc bằng chứng và lí do để đảm bảo cho tính đúng đắn của cái mệnh đề đƣợc nói ra” (the speaker must be in a position to provide evidence or reasons for the truth of the expressed proposition). Điều kịện chân thành (sincere condition).
Chẳng hạn, đối với hành vi xác quyết thì “ngƣời nói tin tƣởng vào tính đúng đắn của mệnh đề đƣợc biểu thị” (the speaker commits himself to a belief in the truth of the expressed proposition) d. Điều kiện bản chất (essential condition). Chẳng hạn, đối với hành vi xác quyết, thì “Khi ngƣời nói thực hiện một hành vi xác quyết thì ngƣời ấy đã ràng buộc mình vào tính đúng đắn của mệnh đề đƣợc nói ra” (the maker of an assertion commits himself to the truth of the expressed proposition) [dẫn theo Keith Allan 1998]. Trong tiếng Việt, Nguyễn Thị Lƣơng [1996] đã thử nghiệm dùng các điều kiện thuận ngôn này để phân tích và miêu tả ý nghĩa của các TTTTCC tiếng Việt.
Từ đó, tác giả đi đến một sự phân loại rất đa dạng về các tiểu từ này, chẳng hạn, đối với tiểu từ “à”, khi dùng trong câu hỏi có thể thực hiện những chức năng khác nhau nhƣ: hỏi- chào, hỏi-xác nhận, hỏi-mỉa, hỏi-phê phán v. Nhƣng danh sách các kiểu hành vi “hỗn hợp” đƣợc xác định theo cách thức nhƣ vậy rất dễ bị bỏ sót một vài hành vi nào đó (ví dụ, ta dễ dàng thêm đƣợc những hành vi nhƣ “hỏi-đểu”, “hỏi-tán tỉnh”, “hỏi- chửi” v.) và cách làm nhƣ vậy, nói chung là rất khó nêu thành quy tắc. Trong luận văn này, ngữ nghĩa cũng nhƣ vai trò của các TTTTCC tiếng Việt trong việc diễn đạt ý nghĩa tình thái của phát ngôn sẽ đƣợc miêu tả theo một khung miêu tả tình thái đƣợc 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com xác định bởi Lê Đông- Nguyễn Văn Hiệp [2001] dựa trên cơ sở chỉ ra những thông tin phi miêu tả, hay thông tin ngữ dụng bổ trợ mà tiểu từ tình thái góp vào câu nói. Nguyên tắc lịch sự Trong công trình “Logic và hội thoại” (Logic and conservation) của mình, Grice [1972] đã cho rằng: nguyên tắc lịch sự (politeness) là một nguyên tắc quan trọng điều khiển hoạt động giao tiếp, bên cạnh nguyên lý cộng tác hội thoại (co- operation).
Quả thực, dƣờng nhƣ các hiện tƣợng, quy luật hoạt động và cả cấu trúc ngôn ngữ đều chịu sự tác động của nguyên tắc lịch sự. Lấy ví dụ trong tiếng Anh và tiếng Hán, khi yêu cầu ai đó làm gì, để giảm nhẹ mức độ áp đặt, ngƣời Anh sẽ sử dụng chiến lƣợc là tránh dùng thời hiện tại, thay vào đó bằng một thức quá khứ nhƣ “Would you…”. Ngƣời Trung Quốc cùng một mục đích cuối cùng nhƣ vậy, ngƣời ta sẽ thêm động từ năng nguyện ở sau chủ ngữ: “你能 不能.?/您可以. Đôi khi chỉ cần lựa chọn những ngữ khí từ tình thái khác nhau để kết thúc câu, cũng giúp cho ngƣời Trung Quốc đạt đƣợc mục đích giao tiếp khác nhau xét trên khía cạnh lịch sự.
Bởi mỗi ngữ khí từ tiếng Hán tự thân nó đã bao hàm mức độ lịch sự khác nhau. Theo Xu Jing Ning,话语情态研究, 220 页, 语气助词与礼貌原则 (Nghiên cứu tình thái ngôn ngữ, trang 220, ngữ khí từ và nguyên tắc lịch sự) thì có thể khái quát mức độ thể hiện tính lịch sự của một số ngữ khí từ nhƣ sau: “嘛, 啊,呗” thuộc lớp từ [-lịch sự], thƣờng đƣợc sử dụng giữa những ngƣời có mối quan hệ gần gũi, thân thiết, giao tiếp xuồng xã không cần lịch sự, khách sáo. Nếu xét cụ thể hơn về mức độ [-lịch sự], thì ta có thứ tự nhƣ sau: 呗> 啊>嘛 (呗 kém lịch sự nhất rồi đến 啊 và sau cùng là 嘛).