Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT DƯỚI MỨC THẤP NHẤT CỦA KHUNG HÌNH PHẠT ĐƯỢC ÁP DỤNG 1. Khái niệm quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng 1. Bản chất của quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng là một dạng của QĐHP. Do đó, QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng sẽ mang một số đặc điểm chung của QĐHP như: Cùng là hoạt động áp dụng pháp luật trong thực tiễn của Hội đồng xét xử; Việc áp dụng phải căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các TTTN, giảm nhẹ TNHS quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015.
Bên cạnh những đặc điểm chung này, QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt còn mang một số những đặc điểm riêng, còn được gọi là bản chất của riêng của quy định này. Pháp luật hình sự hiện hành không có quy định về khái niệm QĐHP và QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng. Theo Luận án tiến sĩ của tác giả Dương Tuyết Miên “Quyết định hình phạt là hoạt động thực tiễn của Tòa án (Hội đồng xét xử) được thực hiện sau khi đã xác định được tội danh để định ra biện pháp xử lý tương ứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm bị cáo đã thực hiện. Nội dung của hoạt động quyết định hình phạt có thể là miễn TNHS hoặc có thể là miễn hình phạt (trong trường hợp này hoạt động quyết định hình phạt chấm dứt tại đây) hoặc nếu Tòa án quyết định áp dụng hình phạt thì hoạt động quyết định hình phạt bao gồm việc xác định khung hình phạt và việc xác định hình phạt cụ thể trong phạm vi luật cho phép đối với bị cáo” [23, tr.
Về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng, hiện nay có rất nhiều quan điểm của nhiều tác giả khác nhau, cụ thể: 8 Theo Ths. Đinh Văn Quế tại bài tìm hiểu về hình phạt và quyết định hình phạt trong Bộ luật Hình sự Việt Nam thì: “QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là trường hợp Tòa án có thể áp dụng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn”[24, tr. Theo Giáo trình luật Hình sự (Phần chung) của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội thì QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định tức là áp dụng hình phạt đó với mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật quy định đối với tội phạm bị xét xử, còn chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn nghĩa là thay thế loại hình phạt được quy định trong điều luật về tội phạm bị xét xử bằng một loại hình phạt khác nhẹ hơn không được quy định trong điều luật [40, tr. Tuy nhiên, các khái niệm này chưa phân tích các tiêu chí đánh giá khách quan các quy định của pháp luật, chưa nêu ra được các điều kiện áp dụng QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng theo BLHS năm 2015.
Hơn nữa, các khái niệm này được hình thành từ nền tảng BLHS năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009, hiện nay đã thay thế bởi BLHS năm 2015. Qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng có một số đặc điểm như sau: - QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng là một dạng của QĐHP sau khi định tội danh và xác định khung hình phạt mà người phạm tội bị xét xử. - Là hoạt động chỉ do Tòa án (Hội đồng xét xử) thực hiện khi QĐHP bằng cách đưa ra mức hình phạt cụ thể đối với người phạm tội bằng bản án của Tòa án. - Chỉ áp dụng khi có các điều kiện quy định tại Điều 54 BLHS năm 2015.
- QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của Điều luật (trừ trường hợp đồng phạm lần đầu với vai trò giúp sức không đáng kể) hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. 9 - Thể hiện chính sách nhân đạo, cá thể hóa trong quyết định hình phạt. Từ những phân tích nêu trên có thể hiểu bản chất của việc QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng như sau: “QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng là chế định đặc biệt trong QĐHP thể hiện chính sách nhân đạo, cá thể hóa hình phạt đối với người phạm tội, nhằm đạt được mục đích hình phạt do Tòa án (Hội đồng xét xử) thực hiện dựa trên cơ sở những điều kiện luật định và tùy trường hợp quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn”. Mục đích của quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong BLHS năm 2015, do Tòa án áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó (Điều 30 BLHS năm 2015).
Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người, pháp nhân thương mại phạm tội mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm (Điều 31 BLHS năm 2015). BLHS năm 2015 không có quy định mục đích của QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng. Tuy nhiên, theo tác giả mục đích của QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng cũng chính là mục đích của hình phạt thông qua hoạt động xét xử của Tòa án. Cụ thể, mục đích của QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
Ngoài ra, QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng là một trong những nội dung để thực hiện nguyên tắc xử lý quy định tại Điều 3 BLHS 10 năm 2015 như thể hiện sự khoan hồng của Nhà nước ta đối với người phạm tội; Nguyên tắc cá thể hóa hình phạt đối với người phạm tội trong vụ án có đồng phạm để tạo ra sự công bằng trong việc QĐHP. Điều kiện quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng là trường hợp đặc biệt của QĐHP. Tùy trường hợp, khi áp dụng quy định này thì Tòa án có thể QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của Điều luật hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Tuy nhiên, việc áp dụng quy định QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng không chính xác sẽ dẫn đến hình phạt áp dụng cho người phạm tội quá nhẹ không tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho cho xã hội của tội phạm, nhân thân người phạm tội, từ đó, ảnh hưởng đến mục đích của hình phạt được áp dụng.
Do đó, để đảm bảo áp dụng quy định này thống nhất trong thực tiễn và tránh tình trạng Tòa án áp dụng tùy tiện khi xét xử thì cần phải hiểu đúng quy định của pháp luật về điều kiện áp dụng chế định này. Điều 54 BLHS năm 2015 quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng như sau: “1. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này; 2. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể; 3.
Trong trường hợp có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này nhưng điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất, thì Tòa án có thể QĐHP dưới mức thấp nhất của khung 11 hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án”. Như vậy, khi có một trong các điều kiện sau đây thì Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng: - Có ít nhất hai TTGN quy định tại khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015; - Người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể; - Điều kiện quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Có ít nhất hai TTGN quy định tại khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015 Điều 51 BLHS nước ta quy định hai loại tình tiết giảm nhẹ TNHS: tình tiết giảm nhẹ do luật định (khoản 1) và TTGN do Toà án xem xét quyết định trong các trường hợp cụ thể nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án (khoản 2).
Khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 quy định các tình tiết TTGN TNHS từ điểm a đến điểm x. Nhìn chung, mỗi điểm của điều luật quy định một TTGN; nhưng cũng có những điểm còn có quan điểm khác nhau trong lý luận cũng như thực tiễn áp dụng. Đó là: - Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm (điểm a). Quy định này kế thừa BLHS năm 1999, tuy nhiên, có thay dấu phẩy sau mỗi TTGN bằng từ “hoặc”.
Do đó, làm phát sinh vấn đề đây là một hay hai TTGN được quy định tại một điểm.