Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ, công nghệ thông tin đã trở thành hạ tầng của hạ tầng quốc gia và là một trong 4 trụ cột chính của nền kinh tế tri thức theo tinh thần Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị. Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam là tổ chức nghiên cứu khoa học và đào tạo hàng đầu đất nước với quy mô hơn 2.200 cán bộ, công chức, viên chức. Tuy nhiên, việc tổ chức thực hiện các chính sách ứng dụng công nghệ thông tin tại cơ quan này giai đoạn 2016-2020 vẫn còn tồn tại nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng, làm giảm hiệu quả công tác quản lý điều hành và nghiên cứu khoa học.

Vấn đề cốt lõi của nghiên cứu là xác định những khoảng cách lớn giữa mục tiêu của Chương trình quốc gia về ứng dụng công nghệ thông tin (Quyết định số 1819/QĐ-TTg) với kết quả triển khai thực tế tại Viện. Theo báo cáo Vietnam ICT Index năm 2019, chỉ số ứng dụng và hạ tầng công nghệ thông tin của Viện đều ở mức 0,0000, đứng vị trí 24/24 trong khối các Bộ và cơ quan ngang Bộ. Mục tiêu của luận văn là làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng, phân tích các nguyên nhân rào cản và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi chính sách giai đoạn 2020-2025.

Phạm vi nghiên cứu bao quát trụ sở trung tâm số 1 Liễu Giai cùng các viện nghiên cứu chuyên ngành trực thuộc tại Hà Nội, Đà Nẵng, Buôn Ma Thuột và Thành phố Hồ Chí Minh trong mốc thời gian từ năm 2016 đến năm 2020, tầm nhìn 2025. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp các căn cứ khoa học thực chứng nhằm thúc đẩy tỷ lệ trao đổi văn bản điện tử đạt 100%, nâng cấp hệ thống kết nối mạng diện rộng và hiện đại hóa hơn 50 đơn vị nghiên cứu thành viên.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết chu trình chính sách công gồm 7 giai đoạn liên hoàn: xây dựng kế hoạch, phổ biến tuyên truyền, phân công phối hợp, duy trì chính sách, điều chỉnh chính sách, theo dõi kiểm tra giám sát và đánh giá tổng kết rút kinh nghiệm. Song song với đó, nghiên cứu kết hợp lý thuyết quản trị công mới và mô hình kiến trúc chính phủ điện tử để phân tích sự tương tác giữa các chủ thể tham gia.

Khung phân tích tập trung vào 4 khái niệm nền tảng: chính sách công, công nghệ thông tin (theo Luật Công nghệ thông tin số 67/2006/QH11), ứng dụng công nghệ thông tin và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (theo Chỉ thị số 16/CT-TTg năm 2017). Nghiên cứu đánh giá tác động dựa trên 4 nhóm công cụ chính sách trọng yếu gồm: công cụ tổ chức nhân sự, công cụ quyền lực pháp lý, công cụ tài chính và công cụ thông tin tuyên truyền, qua đó xác định mối quan hệ biện chứng giữa hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng nhân lực.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu đa dạng bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Đảng, Chính phủ, các báo cáo thống kê chính thức từ Trung tâm Ứng dụng Công nghệ thông tin giai đoạn 2018-2020 và bảng xếp hạng Vietnam ICT Index 2019. Tác giả kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp và so sánh đối chiếu đa chiều.

Về phương pháp khảo sát, nghiên cứu thực hiện thu thập dữ liệu toàn diện trên cỡ mẫu 46 cán bộ làm công tác kỹ thuật và quản lý công nghệ thông tin trong toàn Viện. Bên cạnh đó, tác giả sử dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất có chủ đích để phỏng vấn sâu 15 chuyên gia, lãnh đạo phòng ban và cán bộ nghiên cứu tại 6 viện chuyên ngành đại diện. Việc lựa chọn phương pháp phân tích định tính kết hợp phỏng vấn sâu là hoàn toàn cần thiết vì giúp đào sâu các nguyên nhân tâm lý, rào cản nhận thức và thói quen làm việc thủ công của viên chức mà số liệu thống kê định lượng không thể mô tả trọn vẹn. Toàn bộ quá trình thu thập và xử lý thông tin được thực hiện từ tháng 1 năm 2018 đến tháng 8 năm 2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, hạ tầng nhân lực công nghệ thông tin của Viện vô cùng mỏng và thiếu hụt trầm trọng đội ngũ chuyên gia chất lượng cao. Toàn bộ 2.200 cán bộ của Viện chỉ có 46 người làm công tác vận hành hệ thống thông tin (36 cán bộ chuyên trách và 10 cán bộ kiêm nhiệm), chiếm tỷ lệ khiêm tốn 2,1%. Trình độ chuyên môn có sự bất cập lớn khi chỉ có 21 người đạt trình độ từ cao đẳng trở lên, trong đó có 15 cử nhân, 6 thạc sĩ và 0 tiến sĩ chuyên ngành công nghệ thông tin. Tỷ lệ cán bộ chuyên trách an toàn thông tin chỉ chiếm 0,1%, dẫn đến chỉ số hạ tầng nhân lực năm 2019 đạt 0,0000 điểm.

Thứ hai, hạ tầng kỹ thuật manh mún, phân tán và thiếu tính kết nối. Tỷ lệ đơn vị trực thuộc kết nối mạng diện rộng (WAN) đạt 0,0%. Toàn Viện chỉ có 10 máy chủ hoạt động tập trung tại Trung tâm Ứng dụng Công nghệ thông tin; ngoài 6 đơn vị đặc thù có máy chủ riêng, hầu hết các viện nghiên cứu thành viên chỉ sử dụng mạng ngang hàng qua đường truyền ADSL thông thường. Tỷ lệ băng thông Internet bình quân chỉ đạt 579 kbps/cán bộ.

Thứ ba, mức độ ứng dụng phần mềm nghiệp vụ và dịch vụ số còn rất sơ khai. Tỷ lệ khai thác phần mềm nguồn mở chỉ đạt 11,55% và tỷ lệ ứng dụng văn bản điện tử dừng lại ở mức 13,17%. Đa số các thư viện chuyên ngành vẫn vận hành phần mềm WINISIS miễn phí từ năm 2000, chưa có khả năng liên thông mục lục số.

Thứ tư, chỉ số ứng dụng công nghệ thông tin tổng thể của Viện năm 2019 đạt 0,0000, đứng thứ 5/5 trong nhóm các cơ quan Trung ương không có dịch vụ công.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của thực trạng trên bắt nguồn từ nhận thức chưa đầy đủ của đội ngũ lãnh đạo tại một số đơn vị thành viên, coi công nghệ thông tin là nhiệm vụ phụ trợ thay vì nền tảng phát triển. Nguồn kinh phí đầu tư bị phân bổ dàn trải, không có dòng ngân sách thường niên cho bảo trì, bảo mật. Bên cạnh đó, cơ chế đãi ngộ chưa đủ sức giữ chân nhân sự giỏi, khi 82,6% cán bộ kỹ thuật là nam giới có xu hướng chuyển dịch sang khu vực doanh nghiệp tư nhân.

So sánh với các đơn vị tương đồng như Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (chỉ số hạ tầng kỹ thuật đạt 0,5971, tỷ lệ kết nối WAN đạt 32,7%), Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đang tụt hậu đáng kể. Nhằm tối ưu hóa việc phân tích, toàn bộ các biến số này có thể được trình bày hiệu quả thông qua biểu đồ cột so sánh chỉ số ICT Index giữa các bộ ngành, kết hợp bảng ma trận phân loại trình độ nhân lực và sơ đồ kiến trúc hệ thống mạng hiện trạng để thấy rõ sự phân mảnh thông tin giữa các cơ sở nghiên cứu.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, kiện toàn thể chế và nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu. Ban hành Quy chế quản lý ứng dụng công nghệ thông tin đồng bộ trước năm 2021; thành lập Ban Chỉ đạo Chuyển đổi số do Chủ tịch Viện trực tiếp làm Trưởng ban. Đưa kết quả ứng dụng công nghệ vào tiêu chí bình xét thi đua khen thưởng với mục tiêu 100% đơn vị trực thuộc thực hiện nghiêm túc quy trình làm việc điện tử.

Thứ hai, đầu tư hiện đại hóa hạ tầng mạng diện rộng và bảo mật thông tin. Triển khai dự án mạng WAN liên kết 100% các viện nghiên cứu thành viên tại Hà Nội, Đà Nẵng, Buôn Ma Thuột và Thành phố Hồ Chí Minh hoàn thành trong giai đoạn 2021-2023. Nâng cấp băng thông Internet tối thiểu đạt 2 Mbps/người dùng; trang bị hệ thống tường lửa thế hệ mới và phần mềm diệt virus bản quyền tập trung cho hơn 2.000 máy trạm.

Thứ ba, xây dựng chính sách đặc thù thu hút và đào tạo nguồn nhân lực số. Áp dụng cơ chế phụ cấp ưu đãi nghề nghiệp để tuyển dụng ít nhất 10 chuyên gia công nghệ thông tin trình độ thạc sĩ, tiến sĩ giai đoạn 2021-2025. Tổ chức tập huấn an toàn thông tin định kỳ cho 100% công chức, viên chức và đạt tỷ lệ trên 85% cán bộ sử dụng thành thạo các phần mềm phân tích dữ liệu chuyên sâu.

Thứ tư, chuẩn hóa hệ thống phần mềm và số hóa cơ sở dữ liệu chuyên ngành. Thay thế triệt để các phần mềm thư viện cũ bằng hệ thống quản trị tri thức tích hợp OPAC và Libol; liên thông phần mềm quản lý văn bản điều hành tác nghiệp với Trục liên thông văn bản quốc gia trước năm 2022; hoàn thành số hóa 50% kho tư liệu khoa học xã hội quý hiếm tại Viện Thông tin Khoa học xã hội trước năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm nhà quản trị và hoạch định chính sách công: Tiếp cận khung lý thuyết 7 bước và hệ thống công cụ phân tích để áp dụng vào việc xây dựng quy hoạch chuyển đổi số tại các cơ quan quản lý nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập.

Nhóm lãnh đạo các viện nghiên cứu và cơ sở giáo dục đại học: Tham khảo mô hình kiến trúc công nghệ thông tin tổng thể, giải pháp phân bổ ngân sách và bài học thực tiễn từ 46 nhân sự kỹ thuật để hiện đại hóa hệ thống thư viện và quản trị nghiên cứu khoa học.

Nhóm giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh: Sử dụng hệ thống dữ liệu thực chứng từ Vietnam ICT Index 2019, phương pháp phỏng vấn sâu 15 chuyên gia làm tài liệu tham khảo học thuật cho các đề tài về chính sách công và quản trị điện tử.

Nhóm kỹ sư, chuyên viên công nghệ thông tin trong khối cơ quan nhà nước: Khai thác các giải pháp kỹ thuật cụ thể về xây dựng hệ thống lưu trữ SAN, NAS, cấu hình mạng WAN và các quy chuẩn bảo đảm an toàn dữ liệu nội bộ.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân chính khiến chỉ số ICT Index của Viện đạt mức 0,0000 năm 2019 là gì? Nguyên nhân chủ yếu do Viện chưa triển khai mạng diện rộng WAN kết nối các đơn vị trực thuộc (đạt 0,0%), tỷ lệ sử dụng thư điện tử công vụ và ứng dụng văn bản điện tử còn rất thấp (13,17%), cùng với việc thiếu hụt các cơ sở dữ liệu chuyên ngành dùng chung trên toàn hệ thống.

Nguồn nhân lực công nghệ thông tin tại Viện hiện nay đáp ứng được bao nhiêu phần trăm nhu cầu? Đội ngũ nhân sự chỉ đáp ứng được khoảng 30% khối lượng công việc bảo trì cơ bản. Toàn bộ 2.200 cán bộ chỉ có 46 người làm công nghệ thông tin, trong đó chỉ 21 người có bằng cấp từ cao đẳng trở lên và không có chuyên gia trình độ tiến sĩ nào để chủ trì các dự án phần mềm phức tạp.

Tại sao việc chuyển đổi từ mạng ngang hàng sang mạng WAN là yêu cầu cấp thiết? Mạng ngang hàng chỉ cho phép chia sẻ tệp dữ liệu cục bộ qua đường truyền ADSL chậm chạp. Việc xây dựng mạng WAN sẽ liên kết đồng bộ hơn 50 đơn vị thành viên trên toàn quốc, tạo môi trường mạng bảo mật giúp chia sẻ dữ liệu nghiên cứu tức thời và vận hành thư viện số 24/7.

Các phần mềm nghiên cứu và quản lý hiện tại của Viện gặp phải rào cản gì? Hầu hết các phần mềm văn phòng, phân tích thống kê như SPSS hay hệ điều hành Windows trên 2.000 máy tính đều thiếu bản quyền chính thức. Hệ thống phần mềm thư viện WINISIS quá cũ kỹ, không tương thích với các chuẩn siêu dữ liệu quốc tế hiện đại.

Lộ trình thực hiện các giải pháp của luận văn được phân kỳ ra sao? Lộ trình chia làm 2 giai đoạn: Giai đoạn 2020-2022 ưu tiên hoàn thiện quy chế, nâng cấp đường truyền Internet và lắp đặt mạng WAN; giai đoạn 2023-2025 tập trung xây dựng cơ sở dữ liệu lớn, số hóa 50% tài liệu và vận hành hệ sinh thái nghiên cứu khoa học số toàn diện.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa sâu sắc khung lý thuyết về chu trình 7 bước thực hiện chính sách công trong lĩnh vực ứng dụng công nghệ thông tin tại cơ quan nghiên cứu khoa học đặc thù.
  • Đánh giá toàn diện bức tranh thực trạng tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam với 46 nhân sự công nghệ thông tin trên tổng số 2.200 cán bộ, chỉ ra các chỉ số hạ tầng kỹ thuật và ứng dụng đều ở mức 0,0000 theo chuẩn ICT Index 2019.
  • Phân tích rõ 4 nhóm nguyên nhân rào cản từ nhận thức lãnh đạo, hạn chế tài chính, cơ chế đãi ngộ nhân sự đến sự thiếu đồng bộ của hạ tầng trang thiết bị.
  • Đề xuất mô hình kiến trúc công nghệ tổng thể và 4 nhóm giải pháp đột phá gắn liền với lộ trình 2 giai đoạn cụ thể từ năm 2020 đến năm 2025.
  • Các nhà quản lý và lãnh đạo đơn vị cần khẩn trương phê duyệt đề án đầu tư chiều sâu công nghệ thông tin, hoàn thiện mạng WAN và chuẩn hóa dữ liệu số để đưa tỷ lệ xử lý công việc trực tuyến đạt trên 90%, tạo đà bứt phá cho Viện trong kỷ nguyên số.