Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 1.1 Tổng quan về xu thế, vai trò và tác động của công nghệ thông tin Ngày nay cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, xu thế toàn cầu hóa thì CNTT đã và đang đóng một vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển của mỗi quốc gia trên thế giới. Là nhân tố quan trọng, cầu nối trao đổi giữa các thành phần của xã hội toàn cầu, CNTT đang tham gia hỗ trợ nhiều lĩnh vực trong xã hội như: kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, tài chính ngân hàng, giao thông, du lịch. Việc nhanh chóng ứng dụng CNTT vào quá trình quản lý, kiểm soát, điều hành trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội luôn được ưu tiên hàng đầu của các quốc gia. Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin để phát triển đất nước.
Tại chỉ thị 58- CT/TW, ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị đã khẳng định “Ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin ở nước ta nhằm góp phần giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hóa các ngành kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo an ninh quốc phòng và tạo khả năng đi tắt đón đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá”. Trên cơ sở kế thừa một số quan điểm lớn của Chỉ thị 58 tại nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 1/7/2014 của Bộ Chính trị khóa tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò của CNTT trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới là “CNTT phải được ứng dụng rộng rãi và trở thành một ngành kinh tế có tác động lan tỏa trong phát triển kinh tế - xã hội, 8 bảo đảm quốc phòng, an ninh, góp phần nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia, chất lượng cuộc sống, chỉ số phát triển con người Việt Nam và nâng cao khả năng phòng thủ quốc gia trong chiến tranh mạng. Đến năm 2030, đưa năng lực nghiên cứu, ứng dụng, phát triển, sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ CNTT đạt trình độ tiên tiến thế giới. Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về CNTT và bằng CNTT”.
Thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết của Bộ Chính trị, trong hơn 15 năm qua, lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới; là một trong những động lực quan trọng phát triển kinh tế tri thức, xã hội thông tin, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong quá trình hội nhập quốc tế; góp phần đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, bảo đảm phát triển nhanh, bền vững đất nước. Như vậy, có thể khẳng định ứng dụng Công nghệ thông tin trong nhịp sống văn hóa, xã hội, giáo dục, kinh tế và thời đại ngày nay có tầm ảnh hưởng, tác động rất lớn đến sự phát triển, ổn định của các doanh nghiệp và Chính phủ của mỗi quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng trong giai đoạn hiện nay cũng như trong tương lai. Việc thúc đẩy phát triển cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông là để phục vụ tốt cho người dân, doanh nghiệp, tổ chức,… góp phần phát triển bền vững trong xu thế toàn cầu hóa. Cơ sở lý luận của chính sách ứng dụng công nghệ thông tin trong thời đại Cách mạng công nghiệp 4.
Các khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm Chính sách công “Chính sách công là những hành động ứng xử của Nhà nước với vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng, được thể hiện bằng nhiều hình thức khác 9 nhau nhằm thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng” Theo PGS. Hồ Việt Hạnh - Bài giảng Tổng quan chính sách công. Khái niệm công nghệ thông tin * Khái niệm công nghệ thông tin: Thuật ngữ "công nghệ thông tin" xuất hiện lần đầu vào năm 1958 trong bài viết xuất bản tại tạp chí Harvard Business Review. Hai tác giả của bài viết, Leavitt và Whisler đã bình luận: "Công nghệ mới chưa thiết lập một tên riêng.
Chúng ta sẽ gọi là công nghệ thông tin”. Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: công nghệ thông tin, viết tắt CNTT, (tiếng Anh: Information Technology hay là IT) là một nhánh ngành kỹ thuật sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền tải và thu thập thông tin. Tại Việt Nam, khái niệm CNTT được hiểu và xác định trong Nghị quyết 49/CP ký ngày 04/8/1993 về phát triển CNTT của Chính phủ Việt Nam, như sau: “CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội”. Theo định nghĩa của Luật CNTT số 67/2006/QH11 ngày 29/06/2006 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì “CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số”.
Đây có thể coi là một khái niệm khá hoàn chỉnh và đầy đủ về CNTT. * Ứng dụng CNTT: Ứng dụng CNTT là việc sử dụng CNTT vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này[20]. Khái niệm cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 Thế giới đang tiến vào cuộc cuộc cách mạng công nghiệp lần thức lần thứ 4 (CMCN 4.0) và đã lan toả đến Việt Nam, đang đặt nước ta trước nhiều cơ hội lớn và thách thức lớn cho sự phát triển của mình.Tác động của CMCN 4.0 là hết sức to lớn khi nó thay đổi căn bản phương thức vận hành của xã hội, mô hình quản lý của nhà nước, thay đổi căn bản cách thức con người sống, làm việc và quan hệ hợp tác cùng nhau. Trong lịch sử nhân loại, các chuyên gia đã phân định 4 giai đoạn lịch sử của các cuộc cách mạng công nghiệp.
Bốn cuộc cách mạng này có đặc trưng cơ bản liên quan tới sự cơ giới hóa trong quá trình sản xuất. Đó là: - Cuộc CMCN 1.0 (từ năm 1784): sử dụng máy hơi nước trong quá trình sản xuất; - Cuộc CMCN 2.0 (từ năm 1870): sử dụng điện năng phục vụ sản xuất hàng loạt; - Cuộc CMCN 3.0 (từ năm 1969): liên quan tới công nghệ điện tử, bán dẫn và công nghệ thông tin (CNTT) phục vụ việc tự động hóa quá trình sản xuất; - Cuộc CMCN 4.0 (đầu thế kỷ 21): đang bước đầu chuyển dịch từ cuộc cách mạng lần 3 Cuộc cách mạng mới nhất dựa trên cuộc cách mạng số xảy ra từ cuối thế kỷ 20. Cuộc cách mạng này có bản chất là sự hợp nhất của những công nghệ, tạo sự liên kết giữa không gian vật lý, số và sinh học. Thuật ngữ CMCN 4.0 sử dụng chủ yếu ở châu Âu, đặc biệt là Đức.
Đối với các nước nói tiếng Anh, đặc biệt là Mỹ, thì thuật ngữ hay được dùng là Internet công nghiệp (Industrial Internet).0 với công nghệ nền tảng sẽ là kỹ thuật số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và điện toán đám mây, Internet vạn vật, mạng xã hội, tính toán di động, an ninh mạng (thuộc ngành CNTT); vật lý phỏng sinh học 11 (liên ngành công nghệ sinh học và vật lý), vật liệu mới, năng lượng tái tạo… trong đó chủ yếu là sự đóng góp của CNTT như là nền tảng của CMCN 4. [32] Trong bối cảnh của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang tới, Thủ tướng đã ban hành Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 04 tháng 05 năm 2017 về việc tăng cường năng lực tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Theo đó, Chỉ thị có đề cập đến: “Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 với xu hướng phát triển dựa trên nền tảng tích hợp cao độ của hệ thống kết nối số hóa - vật lý - sinh học với sự đột phá của Internet vạn vật và Trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi căn bản nền sản xuất của thế giới. Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 với đặc điểm là tận dụng một cách triệt để sức mạnh lan tỏa của số hóa và công nghệ thông tin.
Làn sóng công nghệ mới này đang diễn ra với tốc độ khác nhau tại các quốc gia trên thế giới, nhưng đang tạo ra tác động mạnh mẽ, ngày một gia tăng tới mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, dẫn đến việc thay đổi phương thức và lực lượng sản xuất của xã hội. Trong Chỉ thị 16/CT-TTg này, Thủ tướng giao Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt nam nhiệm vụ chính như sau: “Nghiên cứu, đánh giá xu hướng vận động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4, kịp thời báo cáo Thủ tướng Chính phủ làm cơ sở chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương xây dựng các nhiệm vụ, chiến lược, quy hoạch phát triển ngành, vùng, địa phương”. Khái niệm chính sách ứng dụng công nghệ thông tin: Theo Luật Công nghệ thông tin chúng ta có thể rút ra khái niệm: “Chính sách ứng dụng công nghệ thông tin là chính sách công, là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của nhà nước về công nghệ thông tin nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể, giải pháp và công cụ chính sách để giải quyết vấn đề về công nghệ thông tin theo mục tiêu tổng thể của Đảng và Nhà nước đã xác định”. 12 Chính sách ứng dụng công nghệ thông tin gồm có các bộ phận hợp thành quan trọng là: những đường hướng, hành động hay còn gọi là những quan điểm, định hướng, mục tiêu và biện pháp thực hiện nhằm đáp ứng yêu cầu đảm bảo hiện đại hóa công nghệ thông tin cả về nhân lực và vật lực, thực hiện theo định hướng phát triển đã xác định.
Đây là hạt nhân xuyên suốt toàn bộ quy trình chính sách từ khởi động, phân tích, soạn thảo ban hành, thực thi và đánh giá chính sách.