ĐẶT VẤN ĐỀ Nền kinh tế Việt Nam vẫn là một nền kinh tế nông nghiệp với đặc trưng là năng suất, chất lượng thấp. Đời sống của đại bộ phận nhân dân vẫn còn nghèo. Phát triển kinh tế nông thôn, xoá đói giảm nghèo, phát triển bền vững là nhiệm vụ trọng tâm của Việt Nam. Trên thế giới, ở các nước phát triển, mặc dù có cách mạng nông nghiệp, với những công nghệ hiện đại làm tăng năng suất đáng kể nhưng khối ngành nông nghiệp vẫn ngày càng giảm tầm quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, kể cả về phương diện đóng góp vào GDP lẫn thu hút lao động.
Tuy nhiên trong những năm gần đây, nhiều nước tiên tiến đã hướng tới gắn liền nông nghiệp với du lịch thành một mô hình kinh doanh mới gọi là du lịch nông nghiệp hay du lịch trang trại (Agritourism hay Farm tourism). Khi đó, giá trị nông nghiệp không còn chỉ là cung cấp lương thực thực phẩm, mà được nâng lên thành văn hóa, dịch vụ, cảnh quan du lịch. Những giá trị gia tăng này có thể gấp nhiều lần giá trị gốc của nông nghiệp. Tuy nhiên, không phải bất kỳ một vùng sản xuất nông nghiệp nào cũng có thể trở thành khu du lịch nông nghiệp.
Muốn phát triển du lịch nông nghiệp thì cần phải có đầy đủ các điều kiện sau: Thứ nhất là phải có một sản phẩm nông nghiệp đặc sắc làm trọng tâm, Sản phẩm này phải có đủ số lượng để phục vụ nhu cầu ngày càng tăng khi có du lịch, đảm bảo an toàn thực phẩm và có chất lượng nổi trội. Thứ hai là sản phẩm đó phải có bản sắc. Bản sắc của một sản phẩm nông nghiệp có thể do địa bàn sinh trưởng hạn hẹp, hoặc gắn liền với văn hoá, lịch sử, văn hóa ẩm thực đặc trưng của vùng đó khiến cho sản phẩm này nếu được canh tác ở vùng khác cũng bị giảm giá trị nhiều. Thứ ba là cảnh quan đặc trưng của thể loại canh tác nông nghiệp tạo ra sản phẩm nói trên cũng phải có hiệu quả thẩm mỹ cao.
Cảnh quan canh tác này lại cần c 2 được gắn liền với một môi trường cảnh quan thơ mộng xung quanh thì mới thu hút được du khách. Khi đã có đầy đủ các yếu tố trên, người ta phát triển các dịch vụ du lịch đi kèm nhằm khai thác tổng hợp tất cả các tiềm năng của sản xuất nông nghiệp đặc trưng của vùng. Việt Nam chúng ta có rất nhiều sản phẩm nông nghiệp, nhưng những loại đạt chất lượng và số lượng để trở nên có tầm cỡ thì không nhiều. Một trong những sản phẩm nông nghiệp có thể coi là đặc là đặc sắc là những loại hoa quả nổi tiếng của một số vùng, ví dụ như Thanh Long (Bình Thuận), Xoài Cát (Bình Định), Cam Canh, Bưởi Diễn (Hà Nội), Bưởi Đoan Hùng (Phú Thọ)… Trong những năm vừa qua diện tích gây trồng những hoa quả đặc sản này đã phát triển đáng kể, chất lượng sản phẩm ngày càng cao, đáp ứng nhu cầu nội địa và bắt đầu hướng đến xuất khẩu ra các nước trong khu vực và trên thế giới.
Thông thường thì những vùng canh tác cây đặc sản này cũng có một số nét về lịch sử, văn hoá đặc sắc, gắn liền với sản phẩm đó. Nếu biết khai thác, những tiềm năng này có thể hấp dẫn du khách trong và ngoài nước. Giống bưởi Đoan Hùng – Phú Thọ được biết đến như một đặc sản của vùng đất Tổ. Năm 2003, tỉnh Phú Thọ bắt đầu tiến hành phục tráng và bảo tồn, quy hoạch phát triển sản xuất giống bưởi đặc biệt quý hiếm này.
Cũng trong năm đó, thương hiệu bưởi Đoan Hùng cũng được đăng ký. Năm 2010, tỉnh Phú Thọ dự kiến phát triển vùng bưởi đặc sản có diện tích khoảng 1300 ha. Đoan Hùng có vị trí chiến lược của khu vực trung du miền núi phía Bắc, có một nền văn hoá lâu đời, có cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, với các di tích lịch sử cách mạng đặc biệt. Với tiềm năng tổng hợp đó, đặc sản bưởi Đoan Hùng có thể trở thành hạt nhân của một chiến lược phát triển du lịch nông nghiệp hiện đại và hiệu quả.
Để xây dựng mô hình phát triển du lịch nông nghiệp cho Đoan Hùng chúng ta cần xây dựng một phương án quy hoạch với những chiến lược về sử dụng đất, lao động, công nghệ, dịch vụ, cảnh quan…Từ yêu cầu thực tiễn của Đoan Hùng và ý nghĩa ứng dụng của chiến lược này cho các vùng cây đặc sản khác, tôi đề xuất đề tài c 3 nghiên cứu: “Quy hoạch du lịch nông nghiệp v ng b i cs n oan ng tại h m – huyện oan ng – t nh Phú Thọ” Phương pháp tiếp cận của đề tài là xây dựng quy hoạch cho vùng bưởi đặc sản xã Chí Đám dựa trên sự phân tích hệ thống các điều kiện hiện có của khu vực, làm cơ sở cho việc xây dựng quy hoạch phát triển du lịch vùng bưởi đặc sản cho toàn huyện Đoan Hùng. c 4 Chƣơng 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Trên thế giới Du lịch nông nghiệp được đề cập đến từ cuối những năm của thập k 80 của thế k XX. Những nhà nghiên cứu tiên phong và điển hình về lĩnh vực này là Honadle, Beth.
2000 [31]… cùng hàng loạt các nghiên cứu lý luận và thực tiễn về du lịch nông nghiệp của các nhà khoa học quan tâm đến lĩnh vực này như: Hilchey, Duncan (Đại học Cornell – New York) [31]; Holland, Rob, Kent Wolfe (Đại học Tenesse) [32]; Jolly, Desmond, Denise Skidmore (Đại học Califorina) [34]; [148]; Linberg & Hawkins [25]… Hiện tại, du lịch nông nghiệp đang trở thành đề tài được đề cập đến như một hướng đi cho du lịch và nông nghiệp của thế giới. Có thể coi như một trào lưu mới giống như trào lưu phát triển du lịch sinh thái cách đây 30 năm. Theo định nghĩa của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ thì du lịch nông nghiệp được coi là “Du lịch nông nghiệp là một lĩnh vực đang phát triển một cách phổ biến như một cách để các nhà sản xuất đa dạng hóa sản phẩm và tăng cường lợi nhuận. Bằng cách kết hợp giữa nông nghiệp và du lịch, du lịch nông nghiệp tạo ra được những nguồn lợi nhuận mới” theo Hilchey, Duncan, 2000 [31] Hoặc theo Frederick, M.
1995 [30], có thể được hiểu như sau: “Nói một cách đơn giản thì du lịch nông nghiệp được coi như là điểm kết nối giữa du lịch và nông nghiệp. Nếu xét trên quan điểm kỹ thuật thì du lịch nông nghiệp được coi như một kiểu thương mại kết nối giữa sản xuất nông nghiệp hoặc quá trình sản xuất với du lịch để thu hút khách du lịch đến các trang trại, các nông hộ, để giải trí hoặc học tập và mang lại những lợi nhuận cho những trang trại và những người tổ chức du lịch” Theo Adams, Katherine. 2001 [27] thì du lịch nông nghiệp còn là hình thức phát triển mối giao hòa về mặt văn hóa, con người giữa các vùng thông qua việc đến ở hoặc tham quan có mục đích nhằm hưởng thụ các sản vật địa phương. c 5 Các nghiên cứu này đã cho thấy du lịch nông nghiệp không bắt đầu từ các nước công nghiệp mà lại lại có khởi nguồn từ các nước vùng Trung Đông, từ những năm 20 của thế k XX người ta đã bắt đầu biết kết hợp du lịch và nông nghiệp để tạo ra những cảm giác mới cho khách du lịch [37].
Nhưng sau xu hướng này được các nước công nghiệp khác ở Châu Âu và Châu Mỹ có nền nông nghiệp phát triển ứng dụng để khắc phục các khó khăn và những vấn đề về nông thôn khi quá trình công nghiệp hóa nông thôn làm cho nông nghiệp bị lãng quên [36]. Trên thế giới, tại các nước phát triển cách đây 30 - 40 năm cũng đã diễn ra hiện tượng dân cư nông thôn bỏ nghề nông để chuyển sang các ngành nghề khác do thu nhập quá thấp hoặc sản xuất nông nghiệp thua lỗ. Ví dụ: ở Italia từ những năm 1970 tới những năm 1980, tình trạng bỏ nghề nông tăng mạnh với xu hướng ào ạt ra thành phố kiếm việc. Trong 10 năm của thập k 1980, có khoảng 400.000 hộ nông dân chuyển sang nghề khác.
Chính phủ Italia đã phải đối mặt với những cuộc khủng hoảng trầm trọng. Tình trạng như vậy cũng diễn ra ở Nhật Bản, Pháp, Mỹ [39]. Một nguy cơ nữa là sự mất đất nông nghiệp một cách dễ dàng vào tay các ông chủ lớn các tập đoàn, công ty, người nông dân dễ dàng bị mất đất vì không được xem là ông chủ số tài sản đất mà nhiều đời cha ông của họ đã canh tác trên đó. Để giải quyết vấn đề trên, chính phủ các nước đã triển khai rất nhiều biện pháp để ngăn chặn, trong đó có một hướng đã được triển khai rất hiệu quả và đã chứng minh được qua vài chục năm hoạt động là có tác dụng rất tốt với thu nhập của dân cư nông nghiệp, thay đổi nhanh bộ mặt nông thôn.
Đó là việc chính phủ đã hướng sự quan tâm của cộng đồng toàn xã hội và việc phát triển du lịch nông nghiệp. Đây là một hình thức xuất khẩu hàng hóa nông nghiệp tại chỗ rất hiệu quả và tiếp thị gốc về hồ sơ xuất xứ sản phẩm nhất là khi nhu cầu về tự bảo vệ sức khỏe trước các thức ăn và môi trường ô nhiễm của cộng đồng xã hội tại các thành phố lớn ngày càng tăng. Ở Italia hình thức du lịch nông nghiệp này đã đưa ra những kết quả về kinh tế rất đáng khích lệ, trong 5 năm từ 1985 đến 1990 doanh thu từ hoạt động kinh doanh c 6 này tăng gấp hai lần. Trong 10 năm từ 1990 đến 2000 đã tăng lên 50%.
Doanh số năm 2004 là 880 triệu euro, trong đó khách trong nước là ¼ còn lại là đến từ các quốc gia châu Âu khác. Các gia đình thành phố đi du lịch nông thôn hầu hết thường ở từ 3 – 6 ngày, mục đích số một là nghỉ ngơi, thứ hai là tham gia các sự kiện lễ hội và tham quan những di sản văn hóa, thứ ba mới là ăn uống [30]. Được coi là các cơ hội để biết và hiểu về nông thôn Italia và có thể nhận được sự hiếu khách truyền thống của người dân nông thôn. Từ năm 2004, ước tính có khoảng 8000 chi nhánh du lịch nông nghiệp và riêng ở Tuscany có khoảng 2000 chi nhánh.
Chỉ cần khoảng ba tháng du khách có thể đi du lịch được hàng trăm nơi của hàng chục vùng khác nhau của Italia. Rất nhiều chi nhánh du lịch của ở Italia có mặt tại các trang trại sản xuất bơ, nho, và các trang trại khác.