Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị vốn lưu động trong doanh nghiệp. - Chương 2: Thực trạng quản trị vốn lưu động tại Công ty Viettronimex Đà Nẵng. - Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị vốn lưu động tại Công ty Viettronimex Đà Nẵng. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Với vai trò quan trọng của vốn lưu động đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đã có nhiều tác giả trên thế giới và trong nước nghiên cứu và trình bày về chủ đề này trong các giáo trình về tài chính doanh nghiệp.
Thuật ngữ “vốn lưu động” là từ người Mỹ bán hàng rong cổ xưa. Những người bốc hàng lên xe ngựa và sau đó đi bán hàng rong gọi những hàng hóa này là vốn lưu động vì họ muốn bán nó hoặc quay vòng để tạo ra lợi nhuận. Từ những khái niệm sơ khai đó, Eugene F. Houston (2009) đã đưa ra những khái niệm khái quát hơn để phù hợp với Công ty hiện đại cũng như đưa ra các chính sách quản lý vốn lưu động (tiền mặt, hàng tồn kho các khoản phải thu) và các chính sách tài trợ tài sản lưu động.
[1] Tương tự với các lý thuyết căn bản trên, Vũ Quang Kết và cộng sự (2007) cũng đã trình bày những nội dung cơ bản nhất về quản trị vốn lưu động như khái niệm về vốn lưu động, các chi tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động, phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp, phân tích các khoản mục của vốn lưu động (tiền, hàng tồn kho, các Luan van 4 khoản phải thu) và ra quyết định để sự dụng vốn lưu động của doanh nghiệp một cách có hiệu quả. [8] Hoàng Minh Đường và Nguyễn Thừa Lộc (2005) đã nghiên cứu và đưa ra những lý thuyết chuyên biệt hơn về vấn đề quản trị vốn kinh doanh ở doanh nghiệp thương mại, tập trung đi sâu vào vốn lưu động và quản trị vốn lưu động ở doanh nghiệp thương mại. Các tác giả đã khái quát ra những đặc điểm riêng về vốn lưu động, quản trị các thành phần vốn lưu động tại doanh nghiệp thương mại có những điểm khác biệt so với doanh nghiệp sản xuất như thế nào. [4] [5] Nguyễn Minh Kiều (2003-2004) đưa ra nhận định rằng: „„Cùng với quản trị tiền mặt và hàng tồn kho, quản trị khoản phải thu có liên quan đến quyết định về quản trị tài sản của giám đốc tài chính.
Quyết định quản trị khoản phải thu gắn liền với việc đánh đổi giữa chi phí liên quan đến khoản phải thu và doanh thu tăng thêm do bán chịu hàng hóa‟‟. Trong khi đó, các quyết định về quản trị tiền sẽ liên quan đến việc đánh đổi giữa chi phí cơ hội – khi giữ quá nhiều tiền mặt với chi phí giao dịch – khi giữ quá ít tiền mặt. Còn đối quản trị hàng tồn kho là xem xét sự đánh đổi giữa lợi ích và chi phí của việc duy trì tồn kho. [9] [10] Trương Bá Thanh và Trần Đình Khôi Nguyên (2001) cũng trình bày các cơ sở lý thuyết về vốn lưu động ròng và xác định nhu cầu vốn lưu động ròng của doanh nghiệp nhưng đưa ra được những hướng dẫn chi tiết cách xác định các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động thông qua Báo cáo tài chính của doanh nghiệp.
[15] Về mặt thực tiễn cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về chủ đề vốn lưu động trong doanh nghiệp. Những nghiên cứu này đã hệ thống hóa những vấn đề về mặt lý luận của quản trị vốn lưu động tại doanh nghiệp và cũng đã Luan van 5 có những đóng góp nhất định trong việc hoàn thiện công tác quản trị vốn lưu động trong doanh nghiệp cụ thể trong mỗi đề tài. Năm 2015, tác giả Lê Nguyên Phương Thảo đã thực hiện đề tài nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động của các doanh nghiệp được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Đề tài này tiến hành nghiên cứu và kiểm định các nhân tố có thể định lượng được và xem xét ảnh hưởng của chúng đến nhu cầu vốn lưu động ròng đối với các doanh nghiệp được niêm yết trên thị trường chứng khoán theo chiều hướng và mức độ như thế nào.
Đồng thời, tìm ra sự khác biệt của các nhân tố ảnh hưởng đối với mỗi nhóm ngành riêng lẽ. Qua kết quả ước lượng, tác giả chỉ ra rằng nhu cầu vốn lưu động ròng của các doanh nghiệp trên thị trường chịu ảnh hưởng của sự biến động doanh thu, khả năng sinh lời và chu kỳ chuyển hoá tiền mặt. Ngoài ra, nhu cầu vốn lưu động ròng của từng nhóm ngành có sự khác biệt do đặc tính của mỗi ngành riêng nên kiến nghị rằng các nhà đầu tư nên có những phân tích cẩn thận trước khi tiến hành bất cứ một quyết định đầu tư nào.[16] Vương Đức Hoàng Quân và Dương Diễm Kiều (2015) đã nghiên cứu phân tích và đánh giá về tình hình vốn lưu động và vấn đề thanh khoản của 29 doanh nghiệp thuộc 4 ngành – dược phẩm, thép, thực phẩm và thủy sản – đang niêm yết trên sàn chứng khoán TP.HCM (HOSE) với giai đoạn tập trung từ 2010 đến 2014. Kết quả cho thấy những thực trạng về quản lý vốn lưu động và vấn đề cân đối thanh khoản của các doanh nghiệp theo các ngành khác nhau.
Từ đó, tác giả đã đưa ra kết luận rằng các doanh nghiệp Việt Nam cần quan tâm hơn đến quản lý vốn lưu động như một phần tự thân chủ động vượt qua thời kỳ khó khăn của nên kinh tế nói chung và khó khăn của các doanh nghiệp nói riêng. [14] Luan van 6 Tác giả Đỗ Hà Mi (2016) đã nghiên cứu về vấn đề Quản trị vốn lưu động tại Tổng Công ty CP Miền Trung và đã hệ thống hóa những cấn đề lý luận cơ bản về vốn lưu động và quản trị vốn lưu động trong doanh nghiệp. Bên cạnh đó, tác giả cũng đã nhận diện được những hạn chế tại Tổng Công ty CP Miền Trung về vấn đề quản trị vốn lưu động, đó là khả năng dự báo nhu cầu về vốn lưu động trong giai đoạn những năm 2012 – 2014 chưa đạt được hiệu quả làm lãng phí lượng vốn lưu động đáng kể, tình hình quản lý công nợ yếu kém là doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn cao. Từ những hạn chế đang tồn tại tại doanh nghiệp, tác giả đã đề xuất những giải pháp giúp hoàn thiện công tác quản lý các thành phần vốn lưu động trong doanh nghiệp.
[12] Cũng trong năm 2016, trong nghiên cứu của mình về Quản trị vốn luân chuyển tại Petrolimex Kom Tum, tác giả Trần Ngọc Hòa đặc biệt quan tâm đến vấn đề hoàn thiện công tác quản trị vốn luân chuyển tại đơn vị để khắc phục những hạn chế đang tồn tại, góp phần nâng cao hiệu quả xử dụng vốn nói chung và vốn lưu chuyển nói riêng. Các giải pháp được đưa ra vô cùng cụ thể cho từng thành phần của vốn lưu chuyển, có sự phân tích về hiệu suất, hiệu quả của việc quản trị vốn lưu chuyển, giải quyết được các nguyên nhân gây ra hạn chế trong quá trình quản trị vốn luân chuyển. Với mục tiêu hoàn thiện công tác lập dự toán vốn lưu động tại Công ty Cổ phần Bia Hà Nội – Quảng Bình, tác giả đã đưa ra cơ sở xây dựng dự toán vốn lưu động gắn với định hướng hoạt động, giúp cho nhà quản trị thực hiện chức năng điều hành, đo lường, kiểm soát… nhằm đạt được các mục tiêu quản lý và sử dụng vốn hiệu quả. Mặt khác, đề tài đã khẳng định thêm tính thiết thực của công tác lập dự toán trong quản trị vốn lưu động.
Tuy Luan van 7 nhiên phạm vi của để tài chỉ mới nằm trong phần hoạch định vốn lưu động chứ chưa bao hàm được hết các công tác quản trị vốn lưu động. Theo đó, quản trị vốn lưu động được đo lường bằng chu kỳ luân chuyển tiển (CCC) có tác động âm lên tỷ suất sinh lợi hoạt động kinh doanh của các Công ty. Từ đó có thể rút ra kết luận rằng các Công ty có thể xem xét hoạt động quản trị tài chính của mình để có thể nâng cao khả năng sinh lợi và qua đó gia tăng giá trị tài sản cho Cổ đông. [17] Ngoài ra, nhiều tác giả trong các nghiên cứu của mình cũng đã đưa ra được các giải pháp nhằm tăng cường quản trị vốn lưu động trong doanh nghiệp.
Tác giả Phạm Thị Thu Hiền (2014) khi nghiên cứu vấn đề về quản lý vốn lưu động tại Công ty CP Khoáng sản Đắk Lắk cũng đã đề xuất một số giải pháp như Công ty cần chủ động xây dựng kế hoạch sử dụng vốn lưu động, đẩy nhanh tốc độc tiêu thụ sản phẩm thông qua các chính sách bán hàng linh hoạt sẽ giúp tăng vòng quay vốn lưu động, hoàn thiện công tác quản trị và hoạt động kiểm soát các thành phần của vốn lưu động. [6] Trước đó, năm 2012, tác giả Trần Văn Nhã khi nghiên cứu quản lý vốn lưu động tại Công ty CP Lương thực tại Đà Nẵng lại đưa ra một số giải pháp khác, như là nâng cao các tiêu chuẩn bán chịu cho khách hàng và hoàn thiện chính sách thu hồi nợ để cải thiện hiệu quả quản lý khoản phải thu, xây dựng ngân sách tiền mặt và xác định khối lượng đặt hàng tối ưu để hoạch định nhu cầu vốn lưu động một cách chính xác, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động. [13] Từ các công trình nghiên cứu trên, có thể thấy vốn lưu động trong doanh nghiệp luôn là một đối tượng có vai trò vô cùng quan trọng đối sự sống còn và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Tuy nhiên tại mỗi doanh Luan van 8 nghiệp khác nhau, đặc điểm kinh doanh và cấu trúc vốn là khác nhau đòi hỏi phải có những tư duy quản trị khác nhau.
Tính cho đến nay, tại Công ty Viettronimex Đà Nẵng lại chưa có một công trình nào nghiên cứu về công tác Quản trị vốn lưu động tại doanh nghiệp. Với vai trò là kế toán viên hiện đang công tác tại Công ty, tác giả chọn Đề tài “Quản trị vốn lưu động tại Công ty Viettronimex Đà Nẵng” để làm đề tài nghiên cứu của mình. Dựa trên cơ sở lý luận của các tài liệu tham khảo và nghiên cứu thực tế tình hình quản trị vốn lưu động tại Công ty Viettronimex Đà Nẵng, tác giả sẽ cung cấp một hệ thống toàn diện về tình hình quản trị vốn lưu động hiện tại của Công ty và đưa ra các đề xuất về giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả quản trị vốn lưu động tại Công ty Viettronimex Đà Nẵng.