Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về Quản trị tài chính trong doanh nghiệp 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm tài chính doanh nghiệp Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh [9].
Vấn đề đầu tiên đối với mỗi doanh nghiệp là bảo đảm đủ vốn, đáp ứng được yêu cầu của hoạt động sản xuất, kinh doanh. Tiếp đó, phải thực hiện đầu tư vốn, phân bổ vốn như thế nào cho hợp lý để đạt được mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất. Quá trình huy động vốn, đầu tư vốn đã làm hình thành nên các quỹ tiền tệ, phân phối và sử dụng cho các mục đích nhất định. Quá trình này làm xuất hiện các dòng tiền tệ đi vào và đi ra khỏi doanh nghiệp.
Điều đó đặt ra cho doanh nghiệp yêu cầu phải có một hệ thống quản trị bao gồm các phương thức và công cụ để huy động, sử dụng vốn kinh doanh một cách có hiệu quả. Đó cũng chính là nội dung của tài chính doanh nghiệp [8]. Vậy, tài chính doanh nghiệp là các phương thức huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính của các doanh nghiệp nhằm đạt tới mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp [8]. Khái niệm quản trị tài chính Quản trị tài chính doanh nghiệp là sự tác động của nhà quản trị tới các hoạt động tài chính của doanh nghiệp.
Nó được thực hiện thông qua một cơ chế, đó là cơ chế Quản trị tài chính doanh nghiệp. Cơ chế Quản trị tài chính doanh nghiệp được hiểu là một tổng thể các phương pháp, các hình thức và công cụ được vận dụng để quản trị các hoạt động tài chính của doanh nghiệp trong những điều kiện cụ thể nhằm đạt được những mục tiêu nhất định [4]. Việc quản trị tài chính bao gồm việc lập các kế hoạch tài chính dài hạn và ngắn hạn, đồng thời quản trị có hiệu quả vốn hoạt động thực của công ty. Đây là công việc rất quan trọng đối với tất cả các doanh nghiệp bởi vì nó ảnh hưởng đến cách thức và phương thức mà nhà quản trị thu hút vốn đầu tư để thành lập, duy trì và mở rộng công việc kinh doanh.
Lập kế hoạch tài chính sẽ cho phép quyết định lượng nguyên liệu thô doanh nghiệp có thể mua, sản phẩm công ty có thể sản xuất và khả năng công ty có thể tiếp thị, quảng cáo để bán sản phẩm ra thị trường. Khi có kế hoạch tài chính, doanh nghiệp cũng có thể xác định được nguồn nhân lực doanh 7 Luan van nghiệp cần. Quản trị tài chính doanh nghiệp (Financial Management) là một trong những công việc quan trọng của người quản trị doanh nghiệp bởi quản trị tài chính tốt không chỉ giúp doanh nghiệp tối đa hóa lợi nhuận mà còn đưa doanh nghiệp vượt đà phát triển [8]. Ý nghĩa và mục tiêu của Quản trị tài chính trong doanh nghiệp 1.
Ý nghĩa Quản trị tài chính trong doanh nghiệp Quản trị tài chính doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng đối với bản thân chủ doanh nghiệp và các đối tượng bên ngoài có liên quan đến tài chính của doanh nghiệp [8]. Đối với nhà quản trị doanh nghiệp Nhà quản trị tài chính cần hợp tác với nhà quản trị khác lên kế hoạch và dự toán chi phí cho các tình huống tương lai của doanh nghiệp. Nhà quản trị tài chính phải hợp tác với các nhà quản trị khác trong doanh nghiệp bảo đảm hoạt động của doanh nghiệp có hiệu quả. Mọi kết quả kinh doanh đều có liên quan đến vấn đề tài chính và nó cần phải được đưa vào tính toán cho đầy đủ.
Các nhà quản trị doanh nghiệp cần có đủ thông tin để đánh giá tình hình tài chính đã qua. Từ đó tiến hành cân đối tài chính, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, trả nợ, rủi ro tài chính của doanh nghiệp [8]. Đối với các nhà đầu tư Một doanh nghiệp thành công thường tăng doanh thu nhanh chóng do vậy nó đòi hỏi phải đầu tư thêm vào loại tài sản cố định, thiết bị máy móc nguồn dự trữ. Nhà quản trị tài chính phải giúp xác định tỷ lệ lương bán tăng tối ưu, quyết định của các loại tài sản và phương pháp tài trợ tốt nhất cho đầu tư.
Chẳng hạn, doanh nghiệp sẽ tài trợ đầu tư bằng vốn cổ phần hay vốn vay. Nếu chọn hình thức tài trợ bằng vốn vay, thì vốn vay dài hạn hay ngắn hạn, thời hạn vay và lãi suất như thế nào. Mối quan tâm của họ chủ yếu vào khả năng hoàn vốn, mức sinh lãi, khả năng thanh toán vốn và sự rủi ro. Vì thế họ cần thông tin về điều kiện tài chính, tình hình hoạt động, về kết quả kinh doanh và các tiềm năng của doanh nghiệp [8].
Đối với các nhà cho vay Mối quan tâm của họ hướng đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Qua việc phân tích tài chính doanh nghiệp, họ đặc biệt chú ý tới số lượng tiền và các tài sản 8 Luan van có thể chuyển đổi thành tiền nhanh để từ đó có thể so sánh và biết được khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp. Đối với cơ quan nhà nước và người lao động Đối với cơ quan nhà nước, qua việc Quản trị tài chính doanh nghiệp, sẽ đánh giá được năng lực lãnh đạo của ban giám đốc, từ đó đưa ra các quyết định đầu tư bổ sung vốn cho các doanh nghiệp nữa hay không. Việc thường xuyên tiến hành Quản trị tài chính doanh nghiệp sẽ giúp cho người sử dụng thấy được thực trạng hoạt động tài chính, từ đó xác định được nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng đến từng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Trên cơ sở đó có những biện pháp hữu hiệu và ra các quyết định cần thiết để nâng cao chất lượng công tác quản trị kinh doanh, sản xuất kinh doanh văn hóa doanh nghiệp phù hợp [2]. Hiểu được tình hình tài chính của doanh nghiệp để biết được khả năng phát triển của mình khi làm trong doanh nghiệp. Những thông tin này trực tiếp liên quan tới các quyền lợi cùng trách nhiệm đến khách hàng và tương lai của họ. Mục tiêu của quản trị tài chính trong doanh nghiệp Quản trị tài chính nghĩ rộng ra là việc kiểm soát dòng tiền vào ra của doanh nghiệp và việc phân bổ các nguồn tài chính sao cho phù hợp.
Mỗi doanh nghiệp đều có những mục tiêu khác nhau trong từng thời kỳ phát triển [8]. Dưới góc độ các nhà kinh tế hiện nay thì người ta thường đề ra hai mục tiêu cơ bản. - Tối đa hóa chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế: Lợi nhuận sau thuế là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá kinh doanh của công ty có lãi hay không? Tuy nhiên, nếu chỉ có mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận sau thuế thì chưa hẳn đánh giá được giá trị của cổ đông doanh nghiệp, chỉ tiêu này không nói lên được doanh nghiệp phải bỏ ra những gì để có được lợi nhuận cực đại. Do đó, cần bổ sung thêm chỉ tiêu tối đa hóa lợi nhuận trên vốn cổ phần.
- Tối đa hóa lợi nhuận trên vốn cổ phần: Mục tiêu này có thể bổ sung hạn chế trên của mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận sau thuế. Tuy nhiên, vẫn có một số hạn chế nhất định như không xét đến yếu tố thời giá tiền tệ và yếu tố rủi ro. Vì vậy mục tiêu tối đa hóa giá trị thị trường của cổ phiếu được xem là mục tiêu thích hợp nhất của quản trị tài chính công ty vì nó chú ý nhiều yếu tố như độ dài thời gian, rủi ro, chính sách cổ tức và những yếu tố khác ảnh hưởng đến giá cổ phiếu. Nội dung Quản trị tài chính trong doanh nghiệp 1.
Quản trị nguồn vốn 1. Quản trị sử dụng vốn và tài sản trong phạm vi doanh nghiệp Doanh nghiệp là một đơn vị kinh doanh độc lập, được tự chủ trong hoạt động kinh tế và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình. Mục tiêu cuối cùng của chính sách quản trị sử dụng vốn và tài sản là bảo toàn và phát triển vốn tại doanh nghiệp. Vì thế, doanh nghiệp có nghĩa vụ theo dõi chặt chẽ sự biến động của vốn và tài sản, đảm bảo theo đúng các nguyên tắc kế toán hiện hành, tránh thất thoát tài sản.
Đồng thời doanh nghiệp cũng phải được trao quyền lựa chọn cơ cấu tài sản và các loại vốn cho hợp lý nhằm phát triển kinh doanh có hiệu quả. Doanh nghiệp được quyền sử dụng vốn và quỹ để kinh doanh theo nguyên tắc có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn. Doanh nghiệp được quyền thay đổi cơ cấu tài sản và các loại vốn cho việc phát triển kinh doanh có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn. Doanh nghiệp phải xây dựng quy chế quản trị, bảo quản, sử dụng tài sản của doanh nghiệp; quy định rõ trách nhiệm của từng bộ phận, cá nhân đối với các trường hợp làm hư hỏng, mất mát tài sản.
Định kỳ và khi kết thúc năm tài chính doanh nghiệp phải tiến hành kiểm kê toàn bộ tài sản và vốn hiện có. Xác định chính xác số tài sản thừa, thiếu, tài sản ứ đọng, mất phẩm chất, nguyên nhân và xử lý trách nhiệm; đồng thời để có căn cứ lập báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải mở sổ theo dõi chi tiết tất cả các khoản công nợ phải thu trong và ngoài doanh nghiệp. Định kỳ (tháng, quý) doanh nghiệp phải đối chiếu, tổng hợp, phân tích tình hình công nợ phải thu; đặc biệt là các khoản nợ đến hạn, quá hạn và các khoản nợ khó đòi.
Các khoản nợ không thu hồi được, cần xác định rõ mức độ, nguyên nhân, trách nhiệm và biện pháp xử lý. Doanh nghiệp được quyền cho thuê hoạt động các tài sản thuộc quyền quản trị và sử dụng của mình, để nâng cao hiệu suất sử dụng, tăng thu nhập nhưng phải theo dõi, thu hồi tài sản khi hết hạn cho thuê. Đối với tài sản cho thuê hoạt động, doanh nghiệp vẫn phải trích khấu hao theo chế độ quy định. Doanh nghiệp được đem tài sản thuộc quyền quản trị và sử dụng của mình để cầm cố, thế chấp vay vốn hoặc bảo lãnh tại các tổ chức tín dụng theo đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật.
Doanh nghiệp không được đem cầm cố, thế chấp, cho thuê các tài sản đi mượn, đi thuê, nhận 10 Luan van giữ hộ, nhận cầm cố, nhận thế chấp,. của doanh nghiệp khác nếu không được sự đồng ý của chủ sở hữu tài sản đó.