phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tạo động lực làm việc cho viên chức trong các đơn vị sự nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng tạo động lực làm việc cho viên chức tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Cao Bằng 10 Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và một số giải pháp tạo động lực làm việc cho viên chức tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Cao Bằng 11 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP 1. Các khái niệm cơ bản và đặc điểm tạo động lực làm việc cho viên chức 1. Động lực làm việc Trong giai đoan hiện nay nguồn nhân lực của tổ chức đóng vai trò hết sức quan trọng, đó là nhân tố quyết định nên sự thành bại trong kinh doanh của tổ chức. Vấn đề tạo động lực trong lao động là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản trị nhân sự trong doanh nghiệp, nó thúc đẩy ngƣời lao động hăng say làm việc nâng cao năng suất lao động.
Có nhiều những quan niệm khác nhau về tạo động lực trong lao động nhƣng đều có những điểm chung cơ bản nhất. Theo Giáo trình Quản trị nhân lực của Nguyễn Vân Điềm - Nguyễn Ngọc Quân:“Động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó”.134] Theo Giáo trình Hành vi tổ chức của Bùi Anh Tuấn:“Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động”.89] Môi trƣờng làm việc thoải mái, tăng cƣờng tính quản lý cho ngƣời lao động để họ cảm thấy họ đƣợc tôn trọng trong tổ chức là điều đặt ra cho nhà quản lý. Muốn con ngƣời có động lực nhà quản lý cần tạo cho ngƣời lao động 12 lợi ích để thúc đẩy họ làm việc và hoàn thành tốt công việc, mục tiêu mà tổ chức đặt ra.
Nhƣ vậy, có thể rút ra một cách hiểu chung nhất về động lực lao động là:“Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động”. Động lực lao động xuất hiện trong quá trình lao động và do các nhân tố bên ngoài tạo ra, là nguồn gốc dẫn đến năng suất lao động cá nhân và tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh của tổ chức. Nó không phải là đặc tính cá nhân.
Do vậy, muốn tạo động lực cho ngƣời lao động thì nhà quản lý phải nghiên cứu, tìm hiểu môi trƣờng làm việc, công việc, mối quan hệ của họ trong tổ chức từ đó tìm ra cách tạo động lực có hiệu quả cao nhất. Tạo động lực làm việc Các nhà quản lý trong tổ chức muốn xây dựng tổ chức mình vững mạnh thì phải dùng mọi biện pháp kích thích ngƣời lao động hăng say làm việc, phát huy tính sáng tạo trong quá trình làm việc. Đây là vấn đề tạo động lực cho ngƣời lao động trong tổ chức. Nhƣ vậy, “Tạo động lực làm việc được hiểu là tổng hợp các biện pháp và cách ứng xử của tổ chức, của các nhà quản lý nhằm tạo ra sự khao khát và tự nguyện của người lao động cố gắng phấn đấu để đạt được các mục tiêu của tổ chức”.145] Các biện pháp đƣợc đặt ra có thể là thiết lập nên những mục tiêu thiết thực vừa phù hợp với mục tiêu của ngƣời lao động vừa thỏa mãn đƣợc mục đích của tổ chức sử dụng các biện pháp kích thích về vật chất lẫn tinh thần…, còn cách ứng xử của tổ chức đƣợc thể hiện ở việc tổ chức đó đối xử với ngƣời lao động nhƣ thế nào.
Do đó, vấn đề quan trọng của động lực đó là mục tiêu. 13 Nhƣng để đề ra đƣợc những mục tiêu phù hợp với nhu cầu của ngƣời lao động, tạo cho ngƣời lao động sự hăng say trong quá trình làm việc thì nhà quản lý phải biết đƣợc mục đích hƣớng tới của ngƣời lao động sẽ là gì. Việc dự đoán và kiểm soát hành động của ngƣời lao động hoàn toàn có thể thực hiện đƣợc thông qua việc nhận biết động cơ và nhu cầu của họ. Đặc điểm tạo động lực làm việc cho viên chức Điều 2 của Luật Viên chức năm 2010 quy định: “Viên chức là công dân Việt Nam đƣợc tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hƣởng lƣơng từ quỹ lƣơng của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”.
Đặc điểm viên chức: - Viên chức phải là công dân Việt Nam. - Viên chức phải là ngƣời đƣợc đƣợc tuyển dụng theo vị trí việc làm. Theo đó, căn cứ đầu tiên để tuyển dụng viên chức là vị trí việc làm. Ngoài ra, Điều 20 của Luật Viên chức năm 2010 quy định cụ thể hơn về chế độ tuyển dụng nhƣ sau:“Việc tuyển dụng viên chức phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ tiền lƣơng của đơn vị sự nghiệp công lập”.
Vị trí việc làm đƣợc hiểu là “công việc hoặc nhiệm vụ gắn với chức danh nghề nghiệp hoặc chức vụ quản lí tƣơng ứng, là căn cứ xác định số lƣợng ngƣời làm việc, cơ cấu viên chức để thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng và quản lí viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập”. Vị trí việc làm có thể có một hoặc nhiều công việc, có tính thƣờng xuyên, liên tục chứ không bao gồm những công việc thời vụ, tạm thời. Để đƣợc tuyển dụng vào vị trí việc làm, phải thông qua một trong hai phƣơng thức tuyển dụng Viên chức: thi tuyển hoặc xét tuyển (Điều 23 của Luật Viên chức năm 2010). - Viên chức làm việc tại Đơn vị sự nghiệp công lập.
Đơn vị sự nghiệp công lập theo khoản 1 Điều 9 của Luật Viên chức năm 2010 đƣợc hiểu 14 là “…tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nƣớc, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tƣ cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nƣớc”. - Thời gian làm việc của viên chức đƣợc tính kể từ khi đƣợc tuyển dụng, hợp đồng làm việc có hiệu lực cho đến khi chấm dứt hợp đồng làm việc hoặc đủ tuổi nghỉ hƣu theo quy định của Bộ luật Lao động. Đặc điểm tạo động lực làm việc cho viên chức: - Viên chức là ngƣời lao động làm việc cho đơn vị sự nghiệp của nhà nƣớc và đƣợc trả lƣơng. Vì vậy, viên chức có nhu cầu vật chất và tinh thần nhƣ ngƣời lao động khác.
- Viên chức làm việc theo chế độ hợp đồng làm việc và hƣởng lƣơng từ quỹ lƣơng của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. - Viên chức và bên tuyển dụng có sự thỏa thuận về vị trí việc làm, tiền lƣơng, chế độ đãi ngộ, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên… Hợp đồng làm việc là cơ sở pháp lí để sau này xử lí các việc liên quan đến việc vi phạm quyền hay các vấn đề khác phát sinh giữa hai bên. Các học thuyết về động lực làm việc 1. Học thuyết nhu cầu của Maslow (Abraham Maslow) Có thể nói Maslow là ngƣời đầu tiên phát hiện ra con ngƣời là động vật có nhu cầu.
Ông cho rằng con ngƣời có rất nhiều nhu cầu khác nhau mà họ khao khát đƣợc thỏa mãn. Ông chia nhu cầu đó thành 5 loại nhƣ sau: - Nhu cầusinh lý (vật chất): Là những nhu cầu cơ bản để có thể duy trì bản thân cuộc sống con ngƣời nhƣ ăn, mặc, ở, nƣớc uống. - Nhu cầu về an toàn: Là những nhu cầu tránh sự nguy hiểm về thân thể và sự đe dọa mất việc làm, mất tài sản. 15 - Nhu cầu xã hội (về liên kết và chấp nhận): Là những nhu cầu đƣợc quan hệ với những ngƣời khác để trao và nhận tình cảm, sự quý mến, sự chăm sóc hay sự hiệp tác.
- Nhu cầu được tôn trọng: Là nhu cầu có địa vị, đƣợc ngƣời khác công nhận và tôn trọng và nhu cầu tự tôn trọng mình. - Nhu cầu tự hoàn thiện:Là nhu cầu đƣợc trƣởng thành và phát triển, đƣợc biến các khả năng, tiềm năng của mình thành hiện thực, hoặc là nhu cầu đạt các thành tích mới, nhu cầu sáng tạo. Theo Maslow thì khi mỗi một nhu cầu trong số những nhu cầu đó đƣợc thỏa mãn thì nhu cầu tiếp theo trở nên quan trọng. Sự thỏa mãn nhu cầu của các cá nhân sẽ đi theo thứ bậc nhƣ trên và mặc dù không có một nhu cầu nào đƣợc thỏa mãn hoàn toàn nhƣng nếu một nhu cầu nào đó đƣợc thỏa mãn thì về cơ bản nó sẽ không còn tạo động lực cho con ngƣời nữa.Vì thế, theo Maslow để tạo động lực cho nhân viên ngƣời quản trị cần tìm hiểu xem nhân viên đó đang ở đâu trong hệ thống nhu cầu này và hƣớng sự thỏa mãn vào các nhu cầu có thứ bậc cao hơn.
Việc vận dụng thuyết nhu cầu Maslow trong trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Cao bằng sẽ giúp cho các nhà quản quản lý, thủ trƣởng cơ quan hiểu rõ các nhu cầu của viên chức trong cơ quan mình, phân nhóm nhu cầu của viên chức trong cơ quan mình từ đó đƣa ra các giải pháp cho vấn đề của viên chức, ngƣời lao động trong cơ quan nhằ đáp ứng những nhu cầu cần thiết. Học thuyết về sự tăng cường tích cực (B.Skinner) Học thuyết dựa trên công trình nghiên cứu của B. Theo học thuyết này thì những hành vi đƣợc thƣởng sẽ có xu hƣớng đƣợc lặp lại còn những hành vi không đƣợc thƣởng sẽ không có xu hƣớng lặp lại. Đồng thời, khoảng thời gian giữa thời điểm thƣởng (phạt) và thời điểm hành vi xảy ra càng ngắn thì càng có tác dụng thay đổi hành vi.
Để tạo đƣợc động lực thì nhà 16 quản trị cần quan tâm đến các thành tích tốt và thƣởng cho những thành tích đó. Quan điểm trên của B.Skinner có thể áp dụng trong các hoạt động quản lý trong tổ chức, theo đó, các tổ chức nên đặc biệt chú trọng đến các vấn đề thƣởng cho các cá nhân và tập thể, thƣởng kịp thời.