Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN TRỊ NHÂN LỰC TẠI CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 1. Cơ sở lý luận về quản trị nhân lực 1. Những khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về nhân lực Theo tác giả Trần Xuân Cầu thì “Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động.
Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động - con người có sức lao động” (Trần Xuân Cầu, 2010). Theo tác giả Nguyễn Vân Điềm và tác giả Nguyễn Ngọc Quân cho rằng “Bất cứ tổ chức nào cũng được tạo thành bởi các thành viên là con người hay nguồn nhân lực của nó. Do đó, có thể nói nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực. Thể lực chỉ sức khỏe của thân thể nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng sức khỏe của từng con người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chế độ y tế.
Thể lực con người còn thuộc vào tuổi tác, thời gian công tác, giới tính. Trí lực chỉ sức suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách. của từng con người. Trong sản xuất kinh doanh truyền thống, việc tận dụng các tiềm năng về thể lực của con người là không bao giờ thiếu hoặc lãng quên và có thể nói như đã được khai thác gần tới mức cạn kiệt.
Sự khai thác các tiềm năng về trí lực của con người mới còn ở mức mới mẻ, chưa bao giờ cạn kiệt, vì đây là kho tàng còn nhiều bí ẩn của mỗi con người” (Nguyễn Vân Điềm, Nguyễn Ngọc Quân, 2010). c 6 Theo tác giả Trần Xuân Cầu và tác giả Mai Quốc Chánh cho rằng “Nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai. Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội” (Trần Xuân Cầu, Mai Quốc Chánh, 2007). Với những khái niệm trên, theo tác giả: “Nhân lực trong tổ chức là toàn bộ lực lượng lao động (nói một cách khác là lực lượng lao động theo quy mô, cơ cấu) và chất lượng của người lao động phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của tổ chức đó; với nòng cốt là đội ngũ nhân lực làm việc chuyên nghiệp, sáng tạo, có đạo đức nghề nghiệp; được tổ chức quản lý và phát triển nhằm đáp ứng yêu cầu của đơn vị”.
* Khái niệm, vị trí vai trò cán bộ, công chức. Công chức theo nghĩa chung “là nhân viên trong cơ quan nhà nước, đó là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào các chức danh trong các cơ quan nhà nước (trong đó tập trung vào các cơ quan hành chính) để thực thi hoạt động công vụ và được hưởng lương và các khoản thu nhập từ ngân sách nhà nước. Công chức của một quốc gia thường là công dân, người có quốc tịch của nước sở tại và thường nằm trong biên chế. Phạm vi làm việc của công chức là các cơ quan nhà nước, tuy nhiên pháp luật nhiều nước quy định công chức có thể làm việc không chỉ trong cơ quan nhà nước” (Trần Xuân Cầu, Mai Quốc Chánh, 2007 - Luật Cán bộ, Công chức số 22/2008/QH12 ngày 13/11/2008 của Quốc hội).
Ngày 20/5/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh 76/SL về quy chế công chức trong đó, công chức “là những công dân thường xuyên trong cơ quan của Chính Phủ trong hay ngoài nước đều là công chức theo quy chế này, trừ trường hợp do Chính Phủ quy định”. Tại điều 4 của Luật Luật Cán bộ, c 7 công chức năm 2008 quy định: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, Sở trực thuộc trung ương, ở huyện, quận, thị xã, Sở thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” (Luật Cán bộ, Công chức số 22/2008/QH12 ngày 13/11/2008 của Quốc hội). - Vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức: “Cán bộ, công chức đóng vai trò chủ đạo trong công cuộc đổi mới đất nước.
Đội ngũ cán bộ, công chức là nguồn nhân lực quan trọng có vai trò quyết định việc nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước. Cán bộ, công chức là đội ngũ chủ yếu trực tiếp tham gia đƣờng lối đổi mới kinh tế - xã hội của đất nước, hoạch định các chính sách, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức quản lý nhà nước và kiểm tra” (Luật Cán bộ, Công chức số 22/2008/QH12 ngày 13/11/2008 của Quốc hội). Quản trị nhân lực “Quản trị nhân lực chính là khoa học đồng thời là nghệ thuật trong việc tuyển dụng, đào tạo, sử dụng, phát triển và duy trì con người trong tổ chức có hiệu quả nhất nhằm đạt tới kết quả tối ưu cho các tổ chức lẫn nhân viên” (Nguyễn Vân Điềm, Nguyễn Ngọc Quân, 2010). Chức năng cơ bản của quản trị nhân lực a.
Chức năng thu hút nhân lực Nhóm chức năng này chú trọng vấn đề có đủ số lượng nhân viên với trình độ chuyên môn phù hợp với công việc của đơn vị. Vì vậy, để tuyển được đúng người, đúng việc, trước hết đơn vị phải căn cứ vào kế hoạch sản xuất kinh doanh và tình trạng sử dụng người lao động trong đơn vị nhằm xác định được những vị trí cần tuyển dụng thêm. Việc áp dụng tuyển dụng như trắc nghiệm, phỏng vấn sẽ giúp cho đơn vị chọn được người đáp ứng tốt cho công việc. Vì vậy, chức năng tuyển dụng thường gồm: hoạch định nhân lực, phân tích công việc, phỏng vấn, trắc nghiệm và xử lý các thông tin về nhân lực.
Chức năng đào tạo phát triển nhân lực “Chú trọng vào việc nâng cao trình độ chuyên môn của nhân viên, đảm bảo cho nhân viên có các kỹ năng, trình độ lành nghề cần thiết. Nhóm chức năng đào tạo, phát triển như: nâng cao trình độ lành nghề và cập nhật kiến thức quản trị, bồi dưỡng kỹ thuật công nghệ cho cán bộ quản trị và cán bộ chuyên môn; đào tạo tay nghề thực hành cho công nhân (Nguyễn Vân Điềm, Nguyễn Ngọc Quân, 2010). Chức năng duy trì nhân lực Đánh giá thực hiện công việc và thù lao cho người lao động, duy trì và phát triển các mối quan hệ tốt đẹp trong đơn vị. Thông qua hệ thống thù lao và phúc lợi cần thúc đẩy người lao động làm việc hăng say, tận tình và có ý thức trách nhiệm với công việc.
Mặt khác cũng là những biện pháp để thu hút và duy trì đội ngũ người lao động cho đơn vị. Hoạt động này bao gồm các công việc: Giải quyết các tranh chấp, giải quyết kỷ luật lao động; Thỏa thuận lao động tập thể, ký kết hợp đồng lao động; cải thiện điều kiện làm việc; Chăm sóc y tế, bảo hiểm và an toàn lao động. Hoạt động nâng cao về tâm lực và trí lực. c 9 * Nâng cao tâm lực:Tâm lực còn được gọi là phẩm chất tâm lý- xã hội, chính là tác phong tinh thần- ý thức trong lao động bao gồm thái độ làm việc, tâm lý làm việc và khả năng chịu áp lực công việc hay còn gọi là năng lực ý chí của nhân lực.
Nâng cao tâm lực hay còn gọi là nâng cao phẩm chất tâm lý- xã hội (gồm thái độ, tinh thần thực hiện công việc, khả năng chịu áp lực, thái độ khi làm việc .) nhằm đánh giá thái độ trong công việc. Trên thực tế, để đánh giá nhân lực có nâng cao được tâm lực hay không thực sự rất khó và khó lượng hóa. Điều này còn chịu sự tác động và ảnh hưởng của nhiều yếu tố, ảnh hưởng trước hết chính từ trí lực của nhân lực đến môi trường sống và làm việc của mỗi cá nhân. - Trong bất kỳ công việc nào thì con người cũng là nhân tố quan trọng nhất quyết định hiệu quả công việc, và nhân tố đó lại được quyết định bởi phẩm chất đạo đức, nhân cách, tư tưởng của chính cá nhân đó.
Trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đòi hỏi mỗi người phải có tính tự giác, tính tập thể, tinh thần hợp tác, tác phong công nghiệp mới có thể tạo nên tính chuyên nghiệp tại cơ quan, công sở. Ngày nay, những điều kiện đem lại lợi thế cho nhân lực ngoài thể lực và trí lực còn phải lưu ý đến tâm lực, phẩm chất đạo đức và ý thức trong quá trình làm việc. Các tiêu chí đánh giá tâm lực bao gồm: Thái độ làm việc, Tâm lý làm việc, phẩm chất chính trị đạo đức, tác phong làm việc và mức độ phối hợp trong công việc. * Nâng cao trí lực: Trí lực ở đây được hiểu là tri thức, trí tuệ của con người.
trí lực ngoài việc chiếm giữ tri thức ra còn phải có một phương pháp tư duy khoa học và kỹ năng, kỹ xảo điêu luyện.