Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC 1. TONG QUAN VE CHIEN LUQC 1 Khái niệm chiến lược Khái niệm chiến lược có từ thời Hy lạp cô đại. Thuật ngữ này vốn có nguồn gốc sâu xa từ quân sự. Trong bối cảnh cạnh tranh, thuật ngữ “trận địa” của chiến lược quân sự, có thê hiểu như là môi trường trong đó diễn ra hoạt động cạnh tranh, chúng ta sẽ sử dụng năng lực tạo sự khác biệt để mô tả các khả năng đặc biệt tạo ra ưu thế nhất định.
Năng lực tạo sự khác biệt bao gồm các khả năng, các kỹ năng, các công nghệ và các nguồn lực đặc biệt cho phép một tổ chức có thể tạo ra sự khác biệt với đối thủ và tạo nên lợi thế cạnh tranh. Có nhiều định nghĩa chiến lược, mỗi định nghĩa có ít nhiều điểm khác nhau tủy thuộc vào quan niệm của mỗi tác giả. Theo Alfred Chandler (DH Harvard): "Chiến lược là việc xác định các mục tiêu, mục đích cơ bản dài hạn của doanh nghiệp và việc áp dụng một chuỗi các hành động cũng như sự phân bổ các nguồn lực cần thiết để thực hiện mục tiêu này” [6]. Chandler là một người đầu tiên khởi xướng lý thuyết quản trị chiến lược.
Cho đến những năm 1980 khi mà môn học quản trị chiến lược đã trở nên chín muôi, Quinn đã đưa ra định nghĩa có tính khái quát hơn: “Chiến lược là mô thức hay kế hoạch tích hợp các mục tiêu chính yếu, các chính sách, và chuỗi hành động vào một tổng thể được cố kết một cách chặt chẽ”[7]. Sau đó, Johnson và Scholes định nghĩa lại chiến lược trong điều kiện môi trường có rất nhiều những thay đổi nhanh chóng: “Chiến lược là định hướng và phạm vi của một tổ chức về dài hạn nhằm giành lợi t cạnh tranh cho tổ chức thông qua việc định dạng các nguồn lực của nó trong môi trường thay đổi, để đáp ứng nhu cầu thị trường và thỏa mãn mong đợi của các bên hữu quan”[8]. Theo Michael Porter: “Chiến lược là nghệ thuật xây dựng các lợi thế cạnh tranh vững chắc đề phòng thủ”[2]. Theo định nghĩa chiến lược với 5 chữ P của mình Mintzberg khái quát các khía cạnh của quản trị chiến lược như sau: Kế hoạch (Plan): Chuỗi các hành động đã dự định một cách nhất quán.
Mô thức (Partern): Sự kiên định hành vi theo thời gian, có thể là dự định hay không dự định. Vị thế (Position): Phù hợp giữa tổ chức và môi trường của nó. Quan niệm (Perspective): Cách thức để nhận thức sâu sắc về thế giới. Thủ thuật (Ploy): Cách thức cụ thê đề đánh lừa đối thủ.
Không chỉ bao gồm nhiều khía cạnh khác nhau, định nghĩa chiến lược còn khác nhau tùy theo cấp độ. Việc định nghĩa chính xác chiến lược theo cấp độ về bản chất tùy thuộc quan điểm. Tối thiểu có ba mức chiến lược cần được nhận diệt Chiến lược cấp công ty; chiến lược cấp đơn vị kinh doanh và các lược chức năng. Chiến lược công ty hướng tới mục đích và phạm vi tổng thể của tổ chức.
Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh liên quan đến cách thức cạnh tranh thành công trên các thị trường cụ thể. Chiến lược chức năng là các chiến lược giúp cho các chiến lược cấp đơn vị kinh doanh và cấp công. ty thực hiện một cách hữu hiệu nhờ các bộ phận cấu thành trên phương diện các nguồn lực, các quá trình, con người và các kỹ năng cần thiết. Hiện nay, với xu thế toàn cầu hóa, các công ty đang nhanh chóng đa dạng hóa hoạt động.
của mình vượt ra khỏi biên giới quốc gia, từ đó, chiến lược toàn cầu như là sự lựa chọn đương đầu với các vấn đề kinh doanh có tính quốc tế. Nhu vậy, có thể hiểu chiến lược là một chương trình hành động tổng quát, xác định các mục tiêu dài hạn, cơ bản của một doanh nghiệp, lựa chọn các đường lối hoạt động và chính sách điều hành các nguồn lực để đạt các mục tiêu, làm tăng sức mạnh một cách hiệu quả nhất và giành được lợi thế bền vững tạo giá trị gia tăng cao. Vai trò của chiến lược Chiến lược đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, cu thé: ~ Giúp Nhà quản trị phát hiện các cơ hội, lường trước và né tránh các bắt trắc trong tương lai, vạch ra các hành động một cách hữu hiệu, và nhận thức rõ các hiện tượng không chắc chắn và những rủi ro trong quá trình hoạt động của tổ chức. - Đảm bảo cho tổ chức có thể hoạt động một cách hiệu quả trong môi trường luôn thay đổi.
- Góp phân cải thiện lợi thế cạnh tranh của tổ chức nhờ vào việc cập nhật và đổi mới, duy trì sự ổn định, cải thiện hiệu quả các hoạt động của tô chức. - Là kim chỉ nam cho sự tập hợp và thống nhất tắt cả các lực lượng và nguồn lực trong doanh nghiệp. -C cùng chiến lược đảm bảo sự phát triển liên tục và hệ thống trên cơ sở kế thừa và kết hợp giữa quá khứ - hiện tại - tương lai. Hệ thống chiến lược trong doanh nghiệp.
Các cắp chiến lược Chiến lược của doanh nghiệp chia thành 3 cấp: a. Chiến lược cấp chức năng Lợi thế cạnh tranh bắt nguồn từ năng lực của công ty nhằm đạt được sự vượt trội về hiệu quả, chất lượng, sự cải tiến và trách nhiệm với khách hàng. Với các chiến lược cấp chức năng, chúng ta chú ý xem xét vai trò và cách thức mà các chiến lược này hướng đến hoàn thiện hiệu suất của các hoạt động. trong phạm vi công ty, như marketing, quản trị vật liệu, phát triển sản xuất và dịch vụ khách hàng.
Chiến lược cắp đơn vị kinh doanh Có ba loại chiến lược chính ở cấp đơn vị kinh doanh, đó là chiến lược dẫn đạo về chỉ phí; chiến lược tạo sự khác biệt và chiến lược tập trung vào các khe hở thị trường. Chiến lược cắp công ty Đ căn bản của chiến lược ở cấp công ty là sự định hướng chung xuyên suốt các bộ phận trong tô chức. Chiến lược cấp công ty, bao gồm: Chiến lược tập trung, chiến lược hội nhập, chiến lược đa dạng hóa, chiến lược tái cầu trúc. Trong đề tài nghiên cứu của tác giả đi sâu vào việc phân tích để xây dựng chiến lược cấp công ty cho Công ty Công nghiệp Tàu thủy Dung Quất.
Trong việc xây dựng chiến lược, tùy theo viễn cảnh, sứ mệnh, mục tiêu của công ty và các nguồn lực đang nắm giữ mà công ty có thể chọn một trong số các loại chiến lược cấp công ty sau đây. Các loại chiến lược cấp công ty' a. Chiến lược tập trung Chiến lược tập trung vào một lĩnh vực kinh doanh giúp công ty có thể tập trung nguồn lực vật chất, công nghệ, tài chính, quản trị tổng quát và các năng lực cạnh tranh của mình để cạnh tranh thắng lợi trên mọi lĩnh vực. Chiến lược này có thể rất quan trọng trong các ngành tăng trưởng nhanh, bởi ở đó đang yêu cầu đáng kể các nguồn lực của công ty, đó cũng là nơi mà nếu thiết lập một lợi thế cạnh tranh mạnh mẽ sẽ đem lợi nhuận dài hạn rất cao.
* Lợi ích của chiến lược tập trung - Có lợi cho các công ty tăng trưởng nhanh nhờ tập trung các nguồn lực và năng lực của mình vào một hoạt động kinh doanh. - Tập trung nguồn lực và năng lực còn là chiến lược hữu hiệu cho các công ty tránh phải dàn trải quá mỏng sức lực trên các thị trường đa dạng hóa. - Công ty hướng vào sản xuất cái mà công ty hiểu biết tốt nhất, và không gặp phải k khi đa dạng hóa vào các ngành mà nó ít hiểu biết và nơi mà các nguồn lực và năng lực của nó ít có giá trị. * Bất lợi của chiến lược tập trung Thue té cho thay, trong chừng mực nào đó, hội nhập dọc là cần thiết dé tạo giá trị và thiết lập một lợi thế cạnh tranh liên quan đến hoạt động kinh doanh cốt lõi.
Tuy nhiên, các công ty chỉ tập trung vào một hoạt động kinh doanh có thê bỏ mắt các cơ hội tạo giá trị và sinh ra lợi nhuận cao hơn nhờ đưa các nguồn lực và năng lực của công ty sang các hoạt động khác. Chiến lược hội nhập * Chiến lược hội nhập dọc Chiến lược hội nhập dọc nghĩa là công ty đang sản xuất các đầu vào cho chính mình (hội nhập về phía sau, hay ngược chiều) hoặc phát tán các đầu ra của chính mình (hội nhập về trước hay thuận chiều). - Hội nhập thuận chiều Hội nhập thuận chiều xảy ra khi một công ty thâm nhập vào công việc kinh doanh của khách hàng của nó, tiếp cận sát đến khách hàng cuối cùng. Cách tiếp cận này còn gọi là chiến lược xuôi chiều.
Tích hợp thuận chiều cho. phép công ty bảo đảm chất lượng đến tay người tiêu dùng, và qua đó đáp ứng tốt hơn các yêu cầu của khách hàng. - Hội nhập ngược chiều Hội nhập ngược chiều xảy ra khi công ty thâm nhập vào công việc của nhà cung cấp, thường là kiểm soát chất lượng bộ phận cấu thành, đảm bảo. giao hàng đúng lúc hoặc là ôn định giá.
Chiến lược này được thực hiện bằng cách mua lại, thôn tính các nhà cung cấp hoặc tạo ra công ty mới cung cắp sản phẩm hoặc dịch vụ tương tự như nhà cung cấp hiện tại. Bên cạnh hội nhập xuôi chiều và ngược chiều, cũng có thể phân biệt giữa hội nhập toàn bộ và hội nhập hình chóp. Một công ty hội nhập hoàn toàn khi nó phát tán toàn bộ đầu ra qua các hoạt động nó sở hữu. Hội nhập hình chóp khi công ty mua từ các nhà cung cấp độc lập thêm vào với việc cung cấp của chính công ty, hay khi nó phát tán các đầu ra của mình tới các đầu mối độc lập thêm vào với các đầu mối của công ty.
Lợi ích của hội nhập dọc: Một công ty theo đuổi chiến lược hội nhập dọc bởi các lợi ích sau: - Cho phép công ty tạo lập các rào cản nhập cuộc với các đối thủ cạnh tranh mới. - Thúc đẩy đầu tư vào các tài sản chuyên môn hóa để nâng cao hiệu quả. - Bảo vệ chất lượng sản phẩm. - Cải thiện việc lập kế hoạch.
Bắt lợi của hội nhập dọc: - Bất lợi về chỉ phí. - Bất lợi phát sinh khi công nghệ đang thay đổi nhanh. - Bất lợi khi nhu cầu không dự kiến được. Các phương án hội nhập dọc: - Các hợp đồng ngắn hạn và đấu giá cạnh tranh.
- Các liên minh chiến lược và hợp đồng dài hạn. ~ Thiết lập các mồi liên hệ hợp tác dài hạn.