CHƯƠNG 1 TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VA CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Nói về vấn đề văn hóa doanh nghiệp, không chỉ ở Việt Nam mà trên thế giới cũng còn khá mới mẻ. Văn hóa doanh nghiệp bắt đầu được nghiên cứu từ mấy thập niên trở lại đây và đang ngày càng trở nên được quan tâm và chú trọng. Trên phương diện các nghiên cứu khoa học, văn hóa doanh nghiệp là một đề tài mới nhưng đã có rất nhiều các cuốn sách, ấn phâm, công trình nghiên cứu khoa học đề cập tới và phân tích.
Trong cuốn “Văn hóa kinh doanh và triết lý kinh doanh ” xuất bản năm 2000 — PGS. Đỗ Minh Cương đã đưa ra những quan điểm sâu sắc về văn hóa, và mối quan hệ văn hóa trong kinh doanh, tác giả cũng đã đưa ra định nghĩa và phân tích về cau trúc của văn hóa doanh nghiệp. Tuy nhiên khi phân tích sâu về cau trúc văn hóa doanh nghiệp, tác giả chỉ lựa chọn van đề triết lý kinh doanh dé nghiên cứu. Tài liệu giảng dạy chuyên đề văn hóa doanh nghiệp cho các cán bộ doanh nghiệp vừa và nhỏ năm 2012 của PGS.
Nguyễn Mạnh Quân tác giả nhấn mạnh vai trò của văn hóa doanh nghiệp là hết sức quan trọng trong việc thực thi chiến lược, tạo lợi thế cạnh tranh và thu hút nhân tài.Quá trình văn hóa doanh nghiệp bao gồm 4 bước như sau: - _ Nhận thức về đối tượng phục vụ (đối tượng hữu quan) - Xác định sứ mệnh, mục tiêu, triết lý kinh doanh, xây dựng nội dung văn hóa doanh nghiệp - _ Hỗ trợ các thành viên trong quá trình nhận thức - _ Hễ trợ các thành viên trong hành động chuyên môn hàng ngày Quá trình này được triển khai thông qua 3 giai đoạn: - _ Xác định giá tri - Truyền đạt và quán triệt - Chuyên hóa thành động lực và hành động (Nguyễn Mạnh Quân, 2012) Trong tài liệu này tác giả cũng đã đưa ra các phương pháp phân tích sâu về văn hóa doanh nghiệp trong tổ chức và công ty, và những nội dung trong quản ly doanh nghiệp băng văn hóa. Tuy nhiên trong nội dung về xây dựng văn hóa doanh nghiệp tác giả chỉ dừng lại ở việc xây dựng nội dung và chương trình cho văn hóa doanh nghiệp, chưa nói đến việc duy trì và phát triển văn hóa doanh nghiệp. Tác giả đưa ra mô hình chung cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhưng chưa đưa ra được phương pháp và ví dụ cụ thể cho một số loại hình doanh nghiệp đặc thù (ví dụ như ngân hàng, dược, chứng khoán, kiểm toan,. Các doanh nghiệp đặc thù, có những quy định pháp luật đặc thù, khách hàng và dich vụ sản phẩm đặc thù do đó cần có những chiến lược và biểu hiện văn hóa doanh nghiệp đặc thù tương ứng với lĩnh vực hoạt động của mình dé tang kha nang canh tranh trong nén kinh té thi trường mới phát triển ở nước ta hiện nay.
Tại Học viện Công nghệ Bưu chính viễn thông, năm 2013, ThS. Trần Thị Huyền bảo vệ thành công luận văn với dé tài “Duy tri và phát triển văn hóa doanh nghiệp Viettel dé phát triển bên vững và hội nhập quốc tế”. Luận văn đã có những đóng góp nhất định trong thực tiễn về phát huy văn hóa doanh nghiệp trong xu thé hội nhập quốc tẾ, xong luận văn chỉ giới hạn trong phạm vi văn hóa doanh nghiệp tập đoàn Viettel nói riêng và các đơn vi hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin nói chung. Gần đây nhất, cũng theo PGS.
Đỗ Minh Cương, trong bài viết về quản trị văn hóa doanh nghiệp đăng trên kỷ yếu hội thảo quốc gia 2015, nhà lãnh đạo cao nhất công ty có vai trò quyết định đến việc xây dựng và phát huy văn hóa doanh nghiệp. Tác giả cũng cho rằng VHDN không chỉ là một phương pháp và công cụ quản lý mà còn là một nguồn tài sản quý giá của DN nên nó cần có sự lãnh đạo và quản trị một cách khoa học. Nó không chỉ đòi hỏi các nhiệm vụ xây dựng, tô chức thực hiện, triển khai vào hoạt động và đời sống của DN mà còn là các công việc áp dụng trong quản trị chiến lược, quan trị sự thay đổi dé phát triển bền vững. Những công việc, nhiệm vụ trên đều thuộc vai trò, trách nhiệm của người sáng lập, lãnh đạo cao nhất của tô chức.
Tạo lập và quản trị một nền VHDN mạnh, có giá tri lâu dai là một tiêu chí quan trọng dé phân biệt người lãnh đạo với người quản lý cấp cao nhất. VHDN ở mỗi quốc gia có những đặc thù nhất định, VHDN ở Nhật Bản hay ở Mỹ là chủ đề nghiên cứu hết sức phố biến. Gần đây, với quan điểm dé cao văn hóa doanh nghiệp với vai trò giúp doanh nghiệp đứng vững theo lịch sử, trong ấn pham “Kinh tế & Đạo đức thời hiện đại”, do Nhà xuất bản Khoa học xã hội phát hành, tác giả là các giảng viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn — Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh và trường Đại học Reitaku-Nhật Bản cũng cho rằng: “Công ty lớn không hắn sẽ trường tồn”. Theo đó ấn phâm đi sâu vào việc phân tích sự “trường tho” của các doanh nghiệp Nhật Bản qua hàng thé ky.
Đầu tiên là việc nhấn mạnh triết lý kinh doanh của Baigan (1658-1744) người khai sáng triết học thương nhân thời kỳ Edo, với ý tưởng nhắn mạnh đạo đức của thương nhân, kết hợp các tư tưởng của Lão Tử, Trang Tử, Thiền và Thần đạo. Baigan cho rằng, thương nhân giữ phần công việc quan trọng không thê thiếu đối với xã hội, lợi nhuận buôn bán cũng chính đáng như bồng lộc mà giới samurai được nhận từ các chủ nhân, nhằm mang lại sự tự tin cho giới thương nhân; mặt khác đã chỉ ra con đường cụ thé nhất cho thương nhân là lay su trung thuc va tinh tiết kiệm làm đầu. Van đề nổi bật thứ hai trong ấn phẩm này là “Shinise” và “Noren”. Đây là hai từ ám chỉ đặc trưng trong hoạt động kinh doanh kiêu Nhật Bản, Shinise có ba nghĩa là: (1) Những cửa hàng vẫn tiếp tục kinh doanh một mặt hàng giống nhau qua nhiều đời (2) “Uy tín” mà những cửa hàng đã kinh doanh lâu năm có được (3) Nối nghiệp tổ tiên đời đời.
Uy tín và gia nghiệp chính là đặc điểm chế độ gia đình truyền thống của Nhật Bản, ở đó kỹ thuật hay phương châm kinh doanh truyền thống có thể truyền từ đời này sang đời khác. Noren với ý nghĩa có một ý nghĩa khác nghĩa đen thuần túy, nó bao hàm ý nghĩa về mặt tinh thần nghĩa là “uy tín” và “truyền thống”. Ấn phẩm cũng đưa ra những nguyên nhân khác lý giải cho sự phát triển trường kỳ của các doanh nghiệp Nhật Bản như việc kết hợp hài hòa văn hóa “Đông — Tây”, hay việc chăm lo cho đào tạo đội ngũ quản lý Nhà nước và khoa học công nghệ. Tuy vậy, an phẩm chi tập trung nói đến van dé văn hóa va đạo đức kinh doanh trong kinh tế thị trường hiện đại mà chưa nói rõ được các yếu tố khác của văn hóa doanh nghiệp.
Đồng thời việc áp dụng các bai học của Nhật Bản vào Việt Nam chắc chắn cũng có khá nhiều bất cập vì xét cho cùng, một đất nước Nhật Ban đề cao tinh than “võ sĩ đạo” bao giờ cũng khác một đất nước mà sự tự do luôn đặt lên hàng đầu như ở Việt Nam. Đề cập tới văn hóa của doanh nghiệp Mỹ, báo Vnexpress số ra ngày 16/07/2012 cho rằng: “Văn hóa doanh nghiệp là yếu tổ quan trọng làm cho kinh tế Mỹ phát triển trong những năm trở lại đây”. Theo đó bài báo có đưa ra những đặc trưng về văn hóa doanh nghiệp Mỹ như sau: Thứ nhất, kinh doanh không theo cảm tính mà tuân thủ theo lý tính. Mỹ có truyền thống thực dụng, nên mục tiêu theo đuôi phải rõ ràng, trực tiếp và hiệu quả.
Tiếp đó là luật pháp, chế độ, quy tắc, quy phạm. phải rõ ràng và được tính toán cụ thé thông qua các văn bản ký kết hợp đồng. Thứ hai, rdt tồn trọng y kiến cá nhân, sang tạo ca nhân, nhan cach gia trị của con người, thừa nhận sự cố gang và công hiến của cá nhân dé đãi ngộ xứng đáng. Văn hóa này đã khơi dậy và phát huy rất lớn vai trò cũng như tính tích cực, năng lực, tài năng của cá nhân, dé họ tự chủ, tự tin, tự trau dôi, tự hoàn thiện mình và tự quyết định vào thời điểm then chốt.
Thứ ba, khuyến khích tinh than dám nghĩ, dám làm, dam mạo hiểm, dam chịu rủi ro trong đầu tư và kinh doanh. Thứ tư, mạnh dạn giao quyền cho các cấp trong khi tuyệt đối tôn trọng những quyết sách đã ban hành của cấp cao nhất. Phát huy tính tự chủ, sáng tạo trong quản lý đầu tư kinh doanh và thực hiện các biện pháp cụ thể của các cấp. Thứ năm, rat coi trọng sang tạo khoa hoc Kỹ thuật và vận hành chung của cả hệ thống, xác định rõ trách nhiệm và quyền lợi của từng cấp, phân công rõ ràng cụ thé tới từng khâu trong quản lý kinh doanh.
Thứ sáu, tén trọng khách hàng, thực sự coi khách hàng là “Thượng đế” của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp Mỹ đều có khẩu hiệu rõ ràng ở văn phòng làm việc là “chất lượng là sinh mệnh” của công ty, “Khách hàng trên hết”. Thứ bảy, tôn chỉ cơ bản phan dau của doanh nghiệp là: tao ra của cải cho xã hội, tạo ra sản phẩm tốt, dịch vụ phải hoàn hảo. Bài báo đưa ra kết luận, văn hóa doanh nghiệp ở Mỹ là bài học cho bất kỳ doanh nghiệp nào của các nước trên thế giới.
Kết luận như vậy theo tôi là đúng nhưng chưa đủ, bởi vì văn hóa doanh nghiệp luôn đi kèm và phát triển song song với văn hóa xã hội của mỗi nước, việc học hỏi văn hóa doanh nghiệp Mỹ là tốt nhưng cần có chọn lọc dé tránh dập khuôn, máy móc, tạo ra hiệu ứng ngược lại. VHDN không chỉ là công cụ, là tài sản, nó còn là một phương pháp quan lý hiện đại. Mỗi doanh nghiệp có nét văn hóa riêng phụ thuộc rất lớn vào quan điểm, cách nhìn nhận của mỗi người đứng đầu. Trong buổi trải nghiệm “Một ngày với MiniMBA” tại Hà Nội ngày 21/3 vừa qua, Nguyên TGD FPT Nguyễn Thành Nam chia sẻ: “Chúng ta đừng cho rằng văn hóa là thứ thuốc trường sinh bat lão, dé tồn tại doanh nghiệp cần phải có khách hàng, (.) nhưng doanh nghiệp muốn phát triển bền vững thì cần phải có văn hóa doanh nghiệp”.