CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÈ TẠO ĐỘNG LỰC CHO CÔNG CHỨC 1. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Nhu cầu, động cơ Nhu cầu Theo tir điển tiếng Việt (1996), nhu cầu là “đòi hỏi của đời sống, tự nhiên và xã hội”. Từ điển Wikipedia 2 nêu ra một số khái niệm: (1) Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tỉnh thần để tồn tại và phát triển.
Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau; (2) Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được; (3) Nhu cầu là nhân tố thúc đây con người hoạt động. Nhu cầu càng cấp bách thì khả năng chỉ phối con người càng cao. Về mặt quản lý, kiểm soát được nhu cầu đồng nghĩa với việc có thể kiểm soát được cá nhân (trong trường hợp này, nhận thức có sự chỉ phối nhất định: nhận thức cao sẽ có khả năng kiềm chế sự thoả mãn nhu cầu). Nhu cầu có ê được hiểu là trạng thái tâm lý mà con người cảm thấy thiếu thốn không thoả mãn về một cái gì đó.
Nhu cầu chưa được thoả mãn tạo. ra một tâm lý căng thẳng đối với con người khiến họ tìm cách để thoả mãn nhu cầu đó. Người lao động cũng vậy, họ bị thúc đây bởi một trạng thái mong muốn đề có thể thoả mãn được những mong muốn này họ phải nỗ lực, mong muốn càng lớn mức nỗ lực càng cao tức là động cơ càng lớn. Nếu những mong muốn này được thoả mãn thì mức độ mong muốn sẽ giảm đi.
Nhu cầu của người lao động rất phong phú và đa dạng. Nhu cầu và sự thoả mãn nhu cầu đều gắn liền với sự phát triển của nền sản xuất xã hội và sự. phân phối các giá trị vật chất và tỉnh thần trong điều kiện xã hội đó. Nhưng dù trong nền sản xuất nào thì nhu cầu của người lao động cũng gồm hai nhu cầu ll chính: Nhu cầu vật chất và nhu cầu tỉnh thần.
Nhu cầu vật chất là nhu cầu hàng đầu, đảm bảo cho người lao động có thể sống để tạo ra của cải vat chat, thoả mãn được những nhu cầu tối thiểu. Cùng với sự phát triển của xã hội, các nhu cầu vật chất của con người ngày càng tăng lên cả về số lượng và chất lượng. Trình độ phát triển của xã hội ngày càng cao thì nhu cầu ngày càng nhiều hơn, càng phức tạp hơn, thậm chí những nhu cầu đơn giản nhất cũng không ngừng thay đổi. Nhu cầu về tỉnh thần của người lao động cũng rất phong phú, nó đòi những điều kiện để con người tồn tại và phát triển về mặt trí lực nhằm tạo ra trạng thái tâm lý thoải mái trong quá trình lao động.
Động cơ Động cơ, theo từ điển tiếng Việt (1996), bỏ qua cách hiểu theo nghĩa kỹ thuật, “là cái có tác dụng chỉ phối, thúc đây người ta suy nghĩ và hành động”. Từ điển Wikdonary 3 cũng định nghĩa động cơ “là những gì thôi thúc con người có những ứng xử nhất định một cách vô thức hay hữu ý và thường gắn liên với những nhu cầu” (nghĩa thứ 2). Lương Văn Úc (201 1) có viết “Động cơ là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người, là những mục tiêu thúc đẩy hành động của con người nhằm thoả mãn nhu cầu và tình cảm của h Động cơ luôn gắn liền với nhu cầu của con người và hoạt động của mỗi cá n là thoả in những nhu cầu đòi hỏi của bản thân mỗi cá nhân đó. Đông cơ được hiểu là sự sẵn sàng, quyết tâm thực hiện với nỗ lực ở mức độ cao để đạt được các mục tiêu của tổ chức và nó phụ thuộc vào khả năng đạt được kết quả đề thoả mãn được các nhu cầu cá nhân.
Động cơ là kết quả của sự tương tác giữa các cá nhân và tình huống. Động cơ có tác dụng chỉ phối thúc đẩy người ta suy nghĩ và hành động. Các cá nhân khác nhau có các động cơ khác nhau, và trong các tình huống khác nhau động cơ nói chung là khác nhau. Mức độ thúc đây của động cơ cũng sẽ khác nhau giữa các cá nhân cũng như trong mỗi cá nhân ở các tình huống khác nhau.
Động lực và tạo động lực làm việc cho công chức Để có thể tồn tại và phát triển con người cần phải lao động. Đó là quá trình con người vận dụng ý chí, sức lực và sử dụng công cụ lao động để tác động vào đối tượng lao động nhằm đạt được mục tiêu mình mong muốn. “Thực tế có rất nhiều quan niệm khác nhau về động lực làm việc như: Động lực được hiểu là: “Cái thúc đây hành động, gắn liền với việc thỏa mãn nhu cầu của chủ thể, là toàn bộ điều kiện bên trong và bên ngoài có khả năng khơi dậy tính tích cực của chủ thể và xác định tính xu hướng của nó°[7. - “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao.
Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động” [8, tr. Những khái niệm trên đây tuy có khác nhau nhưng đều thể hiện được bản chất của động lực ở chỗ: Động lực làm việc luôn gắn liền với một công việc cụ thể, một tổ chức, một môi trường làm việc cụ thể, không tồn tại động lực chung chung không gắn với một công việc cụ thể nào. Động lực làm việc luôn mang tính tự nguyện, không phải là đặc tính cá nhân. Vì vậy phải hiêu rõ về công và môi trường làm việc thì mới có thể đưa ra biện pháp tạo động lực cho người lao động.
*Tạo động lực được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động tới người lao động nhằm tạo ra động cơ cho người lao động có động lực trong lao động” [8, tr.87] Mục đích của tạo động lực cho người lao động là trách nhiệm và mục tiêu của các nhà quản lý. Điều quan trọng nhất là thông qua các biện pháp, chính sách có thể khai thác, sử dụng có hiệu quả và phát huy tiềm năng của 13 nguồn nhân lực trong tô chức. Một khi người lao động có động lực làm việc thì sẽ tạo ra khả năng nâng cao năng suất và hiệu quả làm việc. Không những thế nó còn tạo ra sự gắn bó và thu hút người giỏi về với tô chức.
Một tô chức sẽ đạt được năng suất lao động và hiệu quả công việc cao khi ở đó có những nhân viên làm việc tích cực và sáng tạo, điều này cũng không loại trừ đối với một cơ quan hành chính nhà nước. Vì thế, cơ quan quản lý cũng như người quản lý cần hiểu rõ mỗi người công chức đang cần cái gì: cái gì đang động viên khuyến khích công chức, xác định biện pháp nào thích ứng trong quản lý nhằm đạt hiệu quả cao, để từ đó xây dựng hệ thống giải pháp tạo kích thích cho công chức là cần thiết. Để tạo động lực làm việc cần có một hệ thống, chính sách cũng như các. biện pháp và cách thức để tác động vào quá trình làm việc của công chức.
Đây chính là điều kiện cần cho kích thích sự tham gia của công chức vào quá trình lao động, đồng thời thúc đẩy tính sáng tạo và nâng cao năng suất làm việc và hiệu quả công tác của tổ chức. Do đó, có thể nói việc tạo động lực làm việc là trách nhiệm của cơ quan nhà nước và của các nhà quản lý trong quá trình quản lý và phát triển nguồn nhân lực. Vai trò của tạo động lực làm việc cho công chức Một là, động lực làm việc quyết định hiệu suất làm việc của công chức Năng lực của công chức là cái khả năng bi làm việc của họ trong thực hiện và giải quyết công Năng lực bao gồm kiến thức, kỹ năng, hiểu biết và kinh nghiệm cho phép công chức hoàn thành công việc được giao. Nguồn lực là điều kiện để công chức có thẻ làm được công việc được giao, bao gồm công cụ, trang thiết bị, nguyên vật liệu, sự hỗ trợ, cơ chế.
mà nhờ đó công chức có thể phát huy được năng lực của mình. Động lực là cái ý chí muốn làm việc, cái mong muốn đạt kết quả trong. công việc của cá nhân công chức. 14 Để công chức có được kết quả làm việc cao hơn, cần hội đủ ba yếu tố này.
Nếu một trong ba yếu tố này không được đảm bảo, sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả làm việc của công chức và của tổ chức. Vận dụng công thức tính hiệu suất làm việc của Carter, s. Shelton : P=AxRxM Trong đó: P là hiệu suất làm việc (Performance); A là khả năng, năng lực làm việc (Ability); R 1a nguén luc (Resources); Ma déng luc, dng co lam viée (Motivation); Qua công thức trên cho thấy tầm quan trọng của động lực làm việc đối với kết quả làm việc của mỗi cá nhân trong tổ chức và ảnh hưởng đến hiệu suất làm việc của cả tô chức. Thực tế cho thấy khả năng, năng lực và nguồn lực làm việc khó có thể bằng 0, nhưng động lực làm việc thì rất dễ bằng 0.
Nếu đông lực làm việc bằng 0 thì một người dù có khả năng làm việc tốt và có đầy đủ khả năng, năng lực và nguồn lực cũng có thể không thực hiện được mục tiêu. Một người có động lực làm việc cao có thể đạt hiệu suất làm việc như mong đợi, kể cả khi họ bị hạn chế về khả năng, năng lực và nguồn lực. Hailà, động lực làm việc là cơ sở đem lại sự sáng tạo cho công chức. Thực tế đã chứng minh, người có động lực làm việc thường cảm thấy thoải mái và say mê với nhiệm vụ được giao.
Chính vì vậy, họ luôn thể hiện tính sáng tạo trong công việc, từ đó cơ quan có thêm những ý tưởng sáng tạo, sáng kiến đổi mới, tạo ra sự đột phá trong tổ chức, giúp mang lại hiệu quả cao. Ba là, động lực làm việc giúp giảm thiểu những vấn đề có tác động tiêu cực nảy sinh trong hoạt động của cơ quan Bởi khi công chức có động lực làm việc thì ít sai phạm, khuyết điểm 15 hơn. Vì người có động lực làm việc thường có trạng thái thể chất và tỉnh thần tốt, họ thường có gắn kết với tổ chức tốt hơn và có tỉnh thần hợp tác với đồng nghiệp cao hơn.