Chương 1: Cơ sở lý luận về sự hài lòng công việc và các nghiên cứu về sự hài lòng công việc Chương2: Thiết kế nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu Chương 4: Kết luận và hàm ý chính sách. Kết luận: Đánh giá lại việc thực hiện mục tiêu đề tài, nêu những đóng góp về mặt hàn lâm, thực tiễn, những hạn chế và hướng phát triển tương lai của đề tài. Tổng quan tài liệu: “Trong quá trình thực hiện đẻ tài nghiên cứu này để nâng cao lý luận và có kiến thức thực tiễn, tác giả đã tham khảo một số tài liệu như sau: ~_ Nghiên cứu về sự hài lòng công việc (Job Satisfaetion: A Literature Review) của Aziri B (2011) dang trong Management Research and Practice đã nêu lên một số định nghĩa về sự hài lòng công việc của các tác giả khác nhau. - Nghiên cứu về sự phát triển thang đo của sự hà lòng công việc (Development of a Compact Measure of Job Satisfaction: The Abridged Job Descriptive Index) cita Jeffrey M.
Sinar, William K, Balzer, Amanda L. Julian, Paul Thoresen, Shahnaz Aziz, Gwenith G. Fisher, and Patricia C. Smith (2002) dang trong Educational and Psychological Measurement nghiên cứu với mục tiêu giảm độ dài của thang đo JDI, xây dựng một phương pháp luận để giúp định lượng một tập hợp nhiều đặc điểm của biến.
Nghiên cứu thực hiện với 1609 công nhân. Kết hợp các kết quả thực nghiệm với đánh giá chuyên nghiệp để chọn một tập hợp gồm năm biến cho. Trong từng thang đo tỷ lệ, các tác giả tập trung sự chú ý vào. các biến mà, theo các chỉ số chất lượng của chúng, đóng góp nhiều nhất cho tính nhất quán nội tại, mối tương quan bên ngoài, đặc điểm chủ quan và phân tán.
Đương nhiên, các biến hoạt động tốt trên một tham số không nhất thiết phải hoạt động tốt trên các tham số khác. Tuy nhiên, trong hầu hết các thang, đo tỷ lệ, có một số biến hoạt động tốt trên tất cả bồn tham số. Lựa chọn trong. số các biến có hiệu suất cao yêu cầu các phán đoán chuyên nghiệp.
Đặc biệt, để tránh tạo ra một bộ phản hồi, các tác giả muốn duy trì sự chia đều giữa các biến có tính âm và dương. Đối với các trường hợp trong đó hai hoặc nhiều tốt nhất xuất hiện nội dung thừa, các tác giả xem xét kỹ hơn danh sách đối với nội dung biến cần thiết. Cuối cùng, nghiên cứu đã chọn năm biến cho mỗi thang đo với mong muốn rằng có thể duy trì tính nhất quán nội tại phù hợp với các điểm số từ các thang đo của độ dài đó. Thử nghiệm với các thang đo có độ dài khác nhau cho thấy rằng các ước tính độ tin cậy tính nhất quán nội tại alpha đã giảm quá thấp với ít hơn năm biến ~_ Nghiên cứu về sự hài lòng của nhân viên trường hợp ở các khách sạn tại Hồng Kông ( An invesigation of employee a job satisfaction: the case of hotels in Hong Kong) đăng trong Tourism management (157 — 165) nghiên cứu sử dụng mô hình JDI kết hợp với mô hình JIG để đánh giá một cách toàn diện với sáu khía cạnh: cơ hội thăng tiến, lương, lãnh đạo, đồng nghiệp và sự hài lòng chung.
Kết quả cho thấy “ lương” là nhân tố quan trọng tác động đến sự hài lòng công việc của nhân viên và có sự khác biệt đáng kể giữa các biến nhân khẩu học của nhân viên. ~_ Đo lường mức độ thỏa mãn đối với công việc trong điều kiện của Việt Nam của Trần Kim Dung (2005) đăng trong Tạp chí phát triển khoa học, tác giả đã sử dụng Chỉ số mô tả công việc (JDI) của Smith và đồng nghiệp. Ngoài năm nhân tố được đề nghị trong JDI, nghiên cứu đã đưa thêm hai nhân tố nữa. là phúc lợi công ty và điều kiện làm việc dé phù hợp với tinh hình Việt Nam.
Sau khi kiểm định, còn lại 4 yếu tố làm nhân viên hải lòng với công việc bao sằm: tiền lương, đồng nghỉ lãnh đạo và cơ hội thăng tiền. ~ _ Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng tới sự hải lòng công việc của người lao động khối văn phòng tại Hà Nội - Ứng dụng phân tích bằng mô hình cấu trúc tuyến tính của Đào Trung Kiên (2013), nghiên cứu thực hiện việc đánh giá mức độ hài lòng của nhân viên khối văn phòng trên địa bàn Hà Nội. Mô hình nghiên cứu được thiết kế dựa trên tảng mô hình JDI kết hợp với giả thuyết cho rằng sự hài lòng với các thành phần công việc ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc với các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc bao gồm: bản chất công việc, cơ hội đào tạo và thăng tiến, lãnh đạo, đồng nghiệp và thu nhập. Nghiên cứu thực hiện với 15 mẫu, câu hỏi sử dụng thang đo Likert 7 điểm.
CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VẺ SỰ HÀI LÒNG CÔNG VIỆC VÀ CÁC NGHIÊN CỨU VÈ SỰ HÀI LÒNG CÔNG VIỆC 1. KHÁI NIỆM LIEN QUAN VE SU’ HAI LONG CONG VIEC Trong thực tế, không có định nghĩa cuối cùng mô tả công việc là gì. Bởi vậy, trước khi đưa ra định nghĩa về sự hài lòng công việc, bản chất và tầm quan trọng của công việc ảnh hưởng đến hoạt động của con người cần được. Các tác giả khác nhau có cách tiếp cận khác nhau đối với định nghĩa sự hài lòng công việc.
Robert Hoppock định nghĩa sự hai lòng công việc là bắt kì sự kết hợp nào về hoàn cảnh tâm lý, sinh lý và môi trường khiến một người trung thực nói rằng tôi hai long với công việc của tôi( Hoppock, 1935). Theo cách tiếp cân này, mặc dù sự hải lòng công việc chịu ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài nhưng vẫn có một số yếu tố bên trong tác động đến cảm nhận của người lao động. Đó là sự hài lòng công việc được trình bày với sự tổng. hợp các nhân tổ tác động đến cảm giác hài lòng.
Theo PC Smith cho rằng “ định nghĩa sự hài lòng công việc như một phản ứng cảm xúc của người lao động với công việc của mình. Nó được xem' như là kết quả của kinh nghiệm người lao động về công việc liên quan đến giá trị của chính mình, đó là, những gì anh ta muốn hoặc mong đợi từ nó. Sự hài lòng có thể được xem tương tự nhưý nghĩa của niềm vui (Smith, 1969). Một trong những định nghĩa được trích dẫn thường xuyên nhất về sự hài lòng công việc được đưa ra bởi Spetor.
Sự hài lòng công việc chỉ đơn giản là cách mọi người cảm nhận về công việc của họ và các khía cạnh khác nhau trong công việc của họ. Đó là mức độ thích (hài lòng) và không thích (không hài lòng) về công việc. Vì thường để đánh giá, sự hài lòng công việc là một 10 quan điểm có thể thay đổi được. Trước đây, một số nhà nghiên cứu đã tiếp cận sự hài lòng của công việc từ thực hiện nhu cầu, có nghĩa là công việc có đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân viên đối với những thứ do.
công việc cung cấp, chẳng hạn như trả lương (eg. Tuy nhiên, các nghiên cứu ngày nay có xu hướng tiếp cận tập trung vào quá trình nhận thức hơn là nhu cầu cơ bản (Spector, 1997). Spector cũng cho rằng. sự hài lòng có thể được coi như là một cảm giác hài lòng chung về công việc.
Locke (1968) miêu tả sự hài lòng như là một phản ứng cảm xúc thu được khi người lao động nhận được toàn bộ những điều họ cần và những điều mà họ tin rằng công ty sẽ cung cấp. Sinha (1972) ý kiến rằng * Sự hài lòng công việc về cơ bản liên quan đến nhu cầu của con người và sự hoàn thành của họ thông qua công việc. thực tế, sự hài lòng công việc được tạo ra bởi nhận thức của cá nhân về công việc được đáp ứng như thế nào với nhu cầu khác nhau của mình” David J. Charrington (1984) nói rằng sự hài lòng công việc là kết quả của sự so sánh giữa những gì phải nhận được và nhận được những gì Stephen P.
Robins định nghĩa sự hài lòng của công việc là “ một ấn tượng chung mang tính chủ quan cao về những lợi ích mà xuất phát từ công. Biến này được liên kết với nhận thức” Schemerhon (1993, được trích dẫn bởi Luddy, 2005) định nghĩa sự thỏa mãn công việc như là sự phản ứng về mặt tình cảm và cảm xúc đối với các khía cạnh khác nhau của công việc của nhân viên. Tác giả nhắn mạnh các nguyên nhân của sự thỏa mãn công việc bao gồm vị trí công việc, sự giám sát của cấp trên, mối quan hệ với đồng nghiệp, nội dung công việc, sự đãi ngộ và các phần thưởng gồm thăng tiến, điều kiện vật chất của môi trường làm việc, cũng như cơ cấu của tô chức. Sự hài lòng của công việc là một khái niệm phức tạp và mang ý nghĩa " khác nhau đối với những người khác nhau.
Sự hài lòng công việc thường được liên kết với động lực, nhưng bản chất của mối quan hệ này không rõ ràng. Sự hài lòng không giống như động cơ thúc đây. Sự hài lòng công việc là một thái độ, một trạng thái nội tại ( Mullin, 2005) Nhu vậy, có thể coi rằng, sự hài lòng công việc có thể xem là nhận thức của nhân viên về sự hài lòng có được khi sự mong đợi từ công việc đem lại sự thỏa mãn nhu cầu cá nhân. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ SỰ HÀI LÒNG CÔNG VIỆC NƯỚC NGOÀI 1.
Các công trình nghiên cứu về sự hài lòng công việc & Các nghiên cứu về sự hài lòng công việc theo các khía cạnh công. việc ~ Nghiên cứu của Smith, Kendall &Hulin (1969) Smith và công sự đã xây dựng chỉ số công việc dé đo lường sự hài lòng trong công việc của nhân viên tại Hoa Kỳ. JDI được đánh giá là một trong các công cụ chính và sử dụng nhiều nhất để đánh giá sự hài lòng công việc. Giá trị và độ tin cậy của JDI được đánh giá rất cao trong cả thực tiễn lẫn lý thuyết (Price Mayer & Schoorman 1992: 1997).
Kerr (1995) cho rằng JDI sở hữu nội dung tốt, các khái niệm có cơ sở vững chắc và đáng tin cậy. Thang đo cung cấp một cách tiếp cận đa phương diện nhằm đo lường sự hài lòng về các đặc trưng mang tính chất cụ thể liên quan đến công việc( Luthans 2002). JDI thể hiện qua 5 thang đo nhân tố như sau: (1) Công việc, (2) Lương, (3) Cơ hội thăng tiến, (4) Lãnh đạo và (5) Đồng nghiệp. “Thang đo có tổng cộng 72 mục với mỗi nhân tố có từ 9 đến 18 mục.