phần Mở đầu và Kết luận, nội dung chính của luận văn bao gồm 4 chƣơng nhƣ sau: 12 Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về sự hài lòng trong công việc của nhân viên trong tổ chức; Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu; Chƣơng 3: Thực trạng sự hài lòng trong công việc của nhân viên tại Công ty cổ phần vận tải và dịch vụ Petrolimex Hà Tây Chƣơng 4: Giải pháp nâng cao sự hài lòng trong công việc của nhân viên tại Công ty cổ phần vận tải và dịch vụ Petrolimex Hà Tây 13 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ HÀI LÒNG TRONG CÔNG VIỆC CỦA NHÂN VIÊN 1.1 Khái quát về sự hài lòng trong công việc 1.1 Khái niệm về sự hài lòng trong công việc Sự hài lòng trong công việc là chủ đề nhận đƣợc nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nƣớc. Mỗi tác giả lại đƣa ra những khái niệm khác nhau về sự hài lòng trong công việc tùy thuộc vào góc độ tiếp cận và nhìn nhân vấn đề. Có thể kể đến một số khái niệm về sự hài lòng trong công việc phôe biến nhƣ sau: Theo quan điểm của Maslow (1943), Adam (1963) và McClelland (1988) thì sự hài lòng nói chung là giá trị nhận đƣợc phải lớn hơn hoặc bằng giá trị kỳ vọng. Trên nền tảng lý thuyết đó, một số nghiên cứu sau này kế thừa và phát triển thêm các lý thuyết về sự hài lòng, đa phần đều cho rằng sự hài lòng là giá trị thực tế (trạng thái hài lòng thực tế) mà ngƣời lao động, nhân viên nhận đƣợc so với giá trị kỳ vọng (trạng thái hài lòng mong đợi) về những khía cạnh công việc nhƣ tiền lƣơng, phúc lợi, tính chất công việc, quan hệ trong công việc, điều kiện làm việc cùng các yếu tố có liên quan khác.
Theo Smith và cộng sự (1969), sự hài lòng với công việc chính là thái độ ảnh hƣởng và ghi nhận của nhân viên về các khía cạnh khác nhau trong công việc của họ, gồm bản chất công việc, cơ hội thăng tiến, lãnh đạo, quan hệ đồng nghiệp và tiền lƣơng. Sự hài lòng của nhân viên tăng khi sự nhìn nhận của nhân viên đối với khía cạnh khác nhau về công việc là tích cực và ngƣợc lại. 14 Theo Spector (1997) sự hài lòng với công việc đơn giản là việc ngƣời ta cảm thấy nhƣ thế nào công việc của họ và các khía cạnh công việc của họ. Weiss (2002) định nghĩa sự hài lòng với công việc là sự đánh giá tích cực hay tiêu cực của một ngƣời về công việc hay tình trạng công việc.
Robbins (2002) cho rằng sự hài lòng trong công việc là cảm giác tích cực về công việc có đƣợc từ sự đánh giá những đặc điểm của công việc đó. Nhân viên cảm thấy hài lòng về công việc sẽ làm việc hiệu quả hơn so với những nhân viên không có cảm giác này. Theo Karatepe và Kilic (2007), sự hài lòng /không hài lòng trong công việc đƣợc định nghĩa là thái độ tích cực hoặc tiêu cực của một ngƣời về việc đánh giá công việc của họ, không có ý định / có ý định rời bỏ tổ chức và giới thiệu tốt / không tốt về tổ chức với bên ngoài. Trong khi đó, Aziri (2011) khái quát sự hài lòng công việc thể hiện cho một cảm giác xuất hiện khi ngƣời lao động nhận thức về công việc, giúp cho họ đạt đƣợc các nhu cầu vật chất và tinh thần.
Dhir và cộng sự (2020) cho rằng sự hài lòng trong công việc có nghĩa là một trạng thái hoặc cảm giác dễ chịu. Đó là một cam kết lâu dài đối với nơi làm việc, hơn là một sự kìm hãm cảm xúc ngắn hạn. Sự hài lòng trong công việc có mối liên hệ trực tiếp với sự cam kết, năng suất làm việc của nhân viên vì nó cải thiện mức độ giữ chân nhân viên của tổ chức và giảm chi phí thuê nhân viên mới. Tại Việt Nam, một số tác giả cũng đƣa ra một số khái niệm về sự hài lòng trong công việc nhƣ sau: Đỗ Hữu Nghị và cộng sự (2015) cho rằng sự hài lòng công việc nói chung đƣợc xem là trạng thái cảm xúc do sự đánh giá, thái độ của ngƣời lao động trong quá trình thực hiện công việc hay kết quả công việc mang lại.
Đoàn Thị Thúy Hải và Nguyễn Thị Ngọc Mai (2020) cho rằng sự hài lòng trong công việc đƣợc định nghĩa chung là mức độ nhân viên 15 yêu thích công việc của họ, đó là thái độ dựa trên sự nhận thức của nhân viên (tích cực hay tiêu cực) về công việc hoặc môi trƣờng làm việc. Nói đơn giản hơn, môi trƣờng làm việc càng đáp ứng đƣợc các nhu cầu, giá trị và tính cách của ngƣời lao động thì độ thỏa mãn công việc càng cao.2 Vai trò sự hài lòng trong công việc Ở bất cứ doanh nghiệp nào dù lớn hay nhỏ thì sự hài lòng, hạnh phúc của doanh nghiệp cũng đều rất quan trọng. Sự hài lòng, vui vẻ của nhân viên trong công việc, đối với công ty thì đều sẽ mang đến lợi ích hai chiều. Đó là cho chính bản thân họ và tốt cho cả tổ chức, doanh nghiệp.
Sự hài lòng trong công việc không chỉ giúp nhân viên gắn bó hơn với doanh nghiệp mà giúp củng cố niềm tin tƣởng đối với doanh nghiệp. Thay vì suốt ngày lo tìm nơi làm việc mới thì họ sẽ quan tâm hơn đến công việc, làm việc có trách nhiệm hơn. Từ đó, hiệu suất công việc cũng tăng cao mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Sự hài lòng của nhân viên sẽ tác động đến mọi mặt trong hoạt động của công ty nhƣ: – Duy trì và ổn định của đội ngũ nhân lực trong công ty.
Khích lệ tinh thần làm việc của nhân viên, gắn bó lâu dài với công ty. Đồng thời, nhân viên sẽ luôn đề cao lợi ích tập thể lên trên hết và cố gắng bảo vệ, chăm sóc, xây dựng và phát triển doanh nghiệp hơn nữa. – Khi nhân viên hài lòng với công ty thì sẽ không rời bỏ nên doanh nghiệp sẽ tiết kiệm đƣợc tối đa số tiền dành cho tuyển dụng ứng viên và đào tạo ứng viên mới. – Sự hài lòng của nhân viên sẽ góp phần gia tăng hiệu suất công việc.
Nhân viên sẽ có hành vi chuẩn mực, chủ động học hỏi, phát triển, tận tâm cống hiến với công việc. Vì thế mang đến hiệu suất làm việc cao hơn. Từ đó lợi nhuận doanh nghiệp thu về cũng cao. 16 – Khi nhân viên công ty hài lòng với công việc, lợi ích mà công ty mang lại thì họ sẽ có đánh giá, bình luận tốt về doanh nghiệp.
Điều này sẽ giúp doanh nghiệp ghi điểm với mọi ngƣời, xây dựng đƣợc hình ảnh đẹp với đối tác, khách hàng. Hơn nữa, còn thu hút đƣợc nhiều nhân tài muốn làm việc, cống hiến cho doanh nghiệp. – Nhân viên khi hài lòng với công việc thì họ sẽ biết cách ứng xử tốt hơn, chăm sóc khách hàng tốt hơn. – Giảm thiểu tối đa các sai phạm, rủi ro trong quá trình làm việc vì nhân viên tâm huyết, có trách nhiệm hơn.
Nhƣ vậy, trong thời đại hiện nay các doanh nghiệp không chỉ cạnh tranh về sản phẩm, dịch vụ, năng lực, trí tuệ mà còn về cả sự hài lòng, thái độ của nhân viên. Công ty có môi trƣờng làm việc, điều kiện tốt luôn thu hút đƣợc nhân tài muốn cống hiến. Những ngƣời làm công tác tuyển dụng của các công ty luôn phải biết lắng, quan sát, thấu hiểu và biết cách giải quyết các vấn đề nhằm mang đến cho nhân viên cảm giác đƣợc quan tâm, chia sẻ. Bởi chỉ có thể mới giúp các nhân viên hài lòng, sẵn sàng cống hiến hết mình cho doanh nghiệp.
Các nhân tố ảnh hƣởng đến sự hài lòng trong công việc của nhân viên 1. Bản chất công việc Các nhà nghiên cứu cho rằng việc làm phong phú công việc (job enrichment) mang lại những kết quả tích cực, bao gồm cải thiện thái độ và hành vi của nhân viên (Hackman và Lawler, 1971; Hackman và Oldham, 1980; Hackman et al 1975). Trong gần bốn thập kỷ qua, mô hình đặc điểm công việc (Job Characteristic Model - JCM) của Hackman and Oldham (1976) đƣợc coi là mô hình thành công nhất trong việc luận giải bản chất của một công việc và giúp giải thích mối liên hệ giữa công việc với sự hài lòng 17 của nhân viên đối với công việc đó (Elanain, 2009). Hackman and Oldham (1976) cho rằng mọi công việc có thể phân tách thành 5 đặc điểm, bao gồm mức độ đa dạng của các kỹ năng (skill variety), mức độ rõ ràng và hoàn chỉnh của nhiệm vụ (task identity), mức độ ý nghĩa của nhiệm vụ (task significance), tính tự chủ trong công việc (autonomy), và phản hồi trong công việc (feedback).
Mỗi công việc có những yêu cầu nhất định đối với nhân viên thực thi công việc đó. Đƣợc tự quyết định những vấn đề liên quan đến chuyên môn, tính thú vị của công việc, đƣợc trả thù lao phù hợp cũng ảnh hƣởng đến chất lƣợng công việc của nhân viên và kéo theo hệ quả chính là sự hài lòng trong công việc (Nguyễn Thị Thu Hằng, Nguyễn Khánh Trang, 2013). Bản chất công việc có thể đƣợc thể hiện qua các khía cạnh nhƣ: sự phù hợp với năng lực, chuyên môn, khả năng hiểu rõ công việc thực hiện, công việc đem lại động lựa cống hiến, sáng tạo của ngƣời lao động (Phạm Thu Hằng, Phạm Thị Thanh Hồng, 2015). Nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra mối quan hệ tích cực giữa bản chất công việc và sự hài lòng trong công việc của nhân viên nhƣ Hà Nam Khánh Giao và cộng sự, (2019) Lê Nguyễn Đoan Khôi, Nguyễn Hữu Nghị, (2014) Lục Mạnh Hiển và cộng sự (2021) 1.
Điều kiện làm việc Lao động là việc thực hiện công việc nhất định của ngƣời lao động theo thoả thuận với ngƣời sử dụng lao động, đƣợc trả lƣơng và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của ngƣời sử dụng lao động. Điều kiện làm việc liên quan đến các khía cạnh về công việc nhƣ nơi làm việc thoải mái, đảm bảo ánh sáng và nhiệt độ, cũng nhƣ một không gian làm việc sạch sẽ (Turyilmaz và cộng sự, 2011). Những yếu tố này ảnh hƣởng đến sự hài lòng trong công việc của nhân viên vì nhân viên luôn muốn một môi trƣờng làm việc mang lại sự thoải 18 mái hơn. Ngƣời lao động đƣợc tạo điều kiện làm việc tốt sẽ đánh giá tốt về công việc của mình, ngƣợc lại họ sẽ cảm thấy bất mãn với điều kiện làm việc mà họ phải chấp nhận (Phạm Thu Hằng, Phạm Thị Thanh Hồng, 2015).