Chương 1: Cơ sở lý luận về tính ồn dịnh duy trì lợi nhuận trong DN và các nhân tổ ảnh hưởng đế inh ồn định duy tì lợi nhuận trong DN “Chương2: Thiết ghiên cứu v các nhân tổ ảnh hưởng đến tính ổn định cduy ì lợi nhuận của các DN sản xuất hàng tiêu dùng rên TTCK Việt Nam. Chương 3: Kết quả nghiên cứu và các hàm ý để xuất từ kết quả nghiên cứu. Ý nghĩa khơa học và thực tiễn của đề tài “Các nghiên cứu cho thấy tính ôn định duy trì lợi nhuận trong DN đã trở. thành đề tài được các nhà kảnh tẾ học trên thể giới tập trung chú ý từ những thập niên cuối của th kỉ XX.
Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, đây vẫn là một Tĩnh vực tương đối mới mè đặc biệt. Vì vậy, luân văn là một tài liệu bổ ích cho việc nghiên cứu lý huyết liên quan đến tính ôn định duy tì lợi nhuận của các DN có quy mô lớn nói chung và các DN hoạt động trong lĩnh vực sản xuất hàng iêu dùng. Những điễm mới về mặt học thuật và thực tễn của luận văn bao gdm: Thứ nhắt, VỀ mặt học thuật, tác giả đã lược khảo lý thuyết về tính én định duy lợi nhuận trong DN từ một số nghiên cứu trước đây trên thể giới. Việc tổng hợp này có ý nghĩa giúp làm sáng tỏ mối quan hệ giữa tính ôn định cduy tỉ lợi nhuận và các nhân tổ ảnh hưởng.
Thứ hai, về mặt thực tiễn, tác giả đã xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến tính ổn định duy tr lợi nhuận của các DN ngành sản xuất hàng cdùng niêm yết trên TTCK Việt Nam giai đoạn 201 1-2014. Nghiên cứu đưa ra một cái nhìn tổng thể về tính ôn định duy ì lợi nhuận của một ngành công nghiệp cụ thể. Các nhân tổ ảnh hưởng đến tính ổn định duy trì lợi nhuận của các DN sản xuất hàng tiêu dùng niêm yết trên TTCK Việt Nam bao gồm: “Tuổi DN, Sự đa dạng về giới tính của ban lãnh đạo DN, Chất lượng kiếm toán, Quy mô DN, Tốc độ tăng trưởng của tổng TS, Tỷ lệ nợ trên VCSH, “Chênh lệch giữa LNTT và TNCT. Tác giả đã làm rõ mức độ và chiều hướng.
nh hưởng của các nhân tổ nói trên đến tính ổn định duy t lợi nhuận của TDN sân xuất hàng tiêu dùng trên TTCK Việt Nam. “Qua đ tà, tác giả đã cho thấy tính chất của lợi nhuận được công bổ trên các BCTC của các DN sản xuất hàng tiêu dùng trên TTCK Việt Nam. Những kết quả nghiên cứu của tác giả là nguồn thông tin hữu ích, hỗ trợ các. nhà đầu tư và các cá nhân quan tâm trong việc dự đoán lợi nhuận trong tương lai của DN nhằm đưa ra những quyết định phù hợp, hay hỗ trợ các chuyên gia ảnh tế trong công tác phân tích tài chính và đánh giá hiệu quả hoạt động của các DN sản xuất hàng tiêu đùng trên TTCK Việt Nam.
Tổng quan tài liệu nghiên cứu trước đây “Cho đến nay, đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về tính ổn định duy trì của lợi nhuận và các nhân tổ ảnh hưởng đến nó, Diễu này xuất phát từ nguyên nhân là có một sự mâu thuẫn giữa lợi nhuận của các DN trong. thực tế với các nguyên tắc kinh tế, cho rằng trong thị trường cạnh tranh, lợi nhuận DN sẽ giảm đần theo thời gian (đặc biệt với những trường hợp lợi nhuận cao hơn mức trung bình) "Như có thể thấy từ phụ lục 2, phần lớn các công tình nghiên cứu về tính én dinh duy trì trên thế giới đều dựa trên các mô hình tự hồi quy và phân. tích dữ liệu bảng. Mueller [119] là một trong những công trình nghiên cứu.
đầu tiên về tính ỗn định duy trì lợi nhuận. Hai giả thuyết chính đã được đặt ra và kiểm định. Giả thuyết Họ phát biểu như sau: Việc tự do gia nhập và rút khôi thị trường trong từng lĩnh vực kinh doanh đem lại lợi nhuận một cách nhanh chóng cùng với mức tỷ suất sinh ‘anh tranh (không kể mức lợi nhuận ban đầu của nó). Giả thuyết H; phát biểu rằng: Mức lợi nhuận đạt được.
trong kỳ kế toán trước tạo thuận lợi để DN duy tr lợi nhuận trong tương lai. “Trong nghiên cứu của mình, Muellerđã sử dụng một mô hình thiết kế trước. 10 khi tiếp cận mô hình tự hồi quy và đặt tên là "mô hình hội tụ da thức” (polynomial convergence model- CM), mô hình có công thức như sau: z,. Trong đó, œ là khả năng ma DN ¡ trở thành một phần tử của nhóm j, Bi là tỷ suất lợi nhuận trên TS, u„ là hệ số sai sót ngẫu nhiên.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, cả hai giả thuyết H, và H; đều bị bác bỏ. Mueller chi ra 3 nguyên nhân là: (1) Các DN duy tì mức lợi nhuận cao có thể phải đối mặt với nguy cơ rủi ro hơn trong quá trình hoạt động của mình; (2) Sai lầm trong việc chọn mẫu hoặc thời gian nghiên cứu; mẫu nghiên cứu được chọn ratữ tổng thể cá công ty lớn nhất tại Mỹ, trang đồ có một số công ty độc quyền; (3) DN có lợi nhuận cao trong nhiều năm liên tục có năng lực quản lý cao. "Tiếp theo công trình nghiên cứu của Mueller [119], nhiều nhà nghiên cứu đã tim hiểu về tính ôn định duy trì lợi nhuận trong các loại hình DN khác. nhau hay so sánh tính én định duy tr lợi nhuận giữa các ngành kinh doanh, giữa các quốc gia khác nhau nhằm tìm ra những nhân tổ khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến tính ổn định duy tì lợi nhuận trong DN.
[146] là một trong số đó. Trong công trình nghiên cứu 5 năm của minh, ‘Schmalensee da sir dụng phương pháp bình phương bé nhất (Ordinary Least ‘Square - OLS) và phương pháp bình phương bé nhất tổng quát (Generalized Least Square - GLS) để tìm hiểu các khía cạnh của tính ổn định duy tr lợi nhuận trong DN, Mục tiêu nghiên cứu đặt ra của Schmalense [146] là làm rõ mỗi quan hệ giữa các nhân tổ (huộc về DN, các nhân tổ thuộc về ngành, thị phần với tính ổn định duy trì lợi nhuận. Mẫu nghiên cứu gồm 1975 công ty Mỹ được lựa chọn từ các lĩnh vực sản xuất khác nhau. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng: (1) Tính ổn định duy trì lợi nhu; không chịu ánh hướng của.
các nhân tổ chủ quan thuộc về DN; (2) Tính ổn định duy trì lợi nhuận chịu. ảnh hướng của các nhân tổ khách quan thuộc vỀ ngành và quá trình ảnh hưởng này là rất quan trọng, mức ảnh hưởng của các nhân tổ khách quan đến " sự biến động của tỷ suất khả năng sinh lời của TS thấp nhất ước tính là 75%; (8) Thi phần có ảnh hưởng để thiên định duy tr lợi nhuận, nhưng mức ảnh. hưởng không đáng kể: (4) Các nhân tổ thuộc v ngành và thị phần có cquan hệ ngược chiều với tinh ổn định duy tì lợi nhuận. 'Công trình nghiên cứu về tính ổn định duy trì lợi nhuận đầu tiên sử dụng phương pháp mô hình tự hồi quy bậc 1 (Autoregressive Model ~ AR(1))_ được.
thực hiện bởi Mueller [120] năm 1986. Do khoảng cách giữa hai công trình. nghiên cứu của Schmalensee [I46] và Mueller [120] chỉ là một năm, do đó. chúng có khá nhiễu điểm tương đồng.
Mục đích nghiên cứu của Schmndlense (I46] là nghiên cứu ảnh hưởng của sự khác nhau về các yếu tổ chủ quan trong: DN, các yếu tổ khách quan của ngành và thị phẫ đối với sự biển động của tý suất lợi nhuận. Schmalensee [146] kết luận rằng chỉ có các yếu tổ ngành và sự khác nhau vẻ thị phẩn mới ảnh hưởng đến tính ổn định duy trì lợi nhuận, còn sắc yếu tổ chủ quan xuất phát từ DN không có sự ảnh hưởng đáng Tuy nhiên, nếu chúng ta nhìn vào nghiên cứu của Muller [120] có thể thấy, tằm ‘quan trong tương đối của các nhân tổ thuộc về ngành so với các hiệu ứng của thị phần khác với kết quả nghiên cứu của Schmalensee khi Schmalensee cho tắng hai nhân tổ này có ảnh hưởng và rất quan trọng đến tính ôn định duy tà lợi nhuận. Phương thức đo lường lợi nhuận của Mueller [120] là khả năng sinh lời trung bình từ các lĩnh vực hoạt động khác nhau của DN. Nhưng, Schmalense.
[146 lai cho rằng, các yêu tổ n quan đến DN không có ảnh hưởng đến những gi gin voi ngành nghề mà nó hoạt động, phép tính trung bình được thực hiện. chỉ để cải thiện sự phà hợp của các phương tinh; né không thay đổi tằm quan trọng tương đối của các biển gi th khác. Sự khác biệt tiếp theo là trong quá trình nghiên cứu, Schmalensee [146] đã phân tích phương sai của lợi nhuận trong mô hình dữ liệu chéo, trong khi Mueller [120] phân tích khả năng sinh lời trung bình trong dài hạn. Hơn nữa, 12 có hai lý đo giải thích tại sao phương sai của lợi nhuận trong mô hình dữ liệu.
chéo phụ thu ào các nhân tổ của ngành: (1) Sai số đo lường và (2) Các thay đổi về cung cầu theo thời gian của các ngành công nghiệp, do cả hai yếu. tổ này đều không thể được bi dip hoàn toàn bởi số lượng DN gia nhập hay rút khỏi ngành cùng lúc. Những điều này đều được Mueller và Schmalensee để cập đến trong nghiên cứu của mình. “Trong cả hai công trình trên, sai số đo lường khác nhau là rất quan trọng, vì vậy, nghiên cứu của Mueller [120 và Schmalensee [146] đã phản ánh một cách cường điệu ảnh hưởng của các nhân tổ về ngành đến tỷ suất lợi nhuận và những biến động của tỷ suất lợi nhuận.
Nhận thấy, phần lớn sự khác nhau giữa các chỉ phí vô hình trong DN như chỉ phí nghiên cứu và phát triển (research & development - R & D), chỉ phí quảng cáo đều xuất phát từ sự khác nhau giữa các ngành công nghiệp (Pakes và Schankerman (19). Hon nữa, các mô hình đầu tr của các ngành nghề kinh đoanh trong một ngành nào đó có xu hướng, được đồng bộ theo thời gian. Sai số đo lường theo thời gian sẽ tiến gần đến gid trị tung bình, và điều này có thể là một trong những lý do khiến nghiên cứu. của Mueller [120] đánh giá tác động ảnh hưởng của ngành trong đài hạn là không đáng kể.
Nguyên nhân thứ hai là sự thay đổi theo thời gian của lợi nhuận. cùng với một yếu tổ liên quan đến ngành nghề hoạt động như sự biển động về giá và sự biến thiên của cầu = những yếu tổ có ý nghĩa hành vi ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận của các công ty trong một ngành công nghiệp.