Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua sắm voucher trực tuyến của khách hàng tại thành phố đà nẵng

Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua sắm voucher trực tuyến của khách hàng tại Đà Nẵng trong luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh.

Chuyên ngành

Quản Trị Kinh Doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn
142
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về mua sắm voucher trực tuyến tại Đà Nẵng

Mua sắm voucher trực tuyến đã trở thành một hình thức tiêu dùng phổ biến tại thành phố Đà Nẵng trong những năm gần đây. Voucher trực tuyến là những phiếu giảm giá điện tử được cung cấp qua các nền tảng thương mại điện tử, cho phép khách hàng mua sắm các sản phẩm và dịch vụ với giá ưu đế. Sự phát triển của Internet và công nghệ thông tin đã tạo điều kiện thuận lợi cho người tiêu dùng tiếp cận các dịch vụ này một cách dễ dàng. Tại Đà Nẵng, mô hình Groupon và các nền tảng bán voucher khác đã nhanh chóng phát triển, thu hút hàng triệu giao dịch. Việc hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng quyết định mua voucher giúp doanh nghiệp tối ưu hóa chiến lược kinh doanh và nâng cao chất lượng dịch vụ.

1.1. Định nghĩa và đặc điểm voucher trực tuyến

Voucher trực tuyến là loại phiếu mua hàng điện tử có giá trị tiền tệ, được bán qua nền tảng thương mại điện tử với giá thấp hơn giá trị thực tế. Sản phẩm này có thể là dịch vụ ăn uống, làm đẹp, du lịch hoặc giải trí. Đặc điểm chính của voucher trực tuyến bao gồm: tính tiện lợi cao, giá cả cạnh tranh, quy trình đơn giản và an toàn, phạm vi rộng lớn các nhà cung cấp dịch vụ.

1.2. Sự khác biệt giữa mua sắm trực tuyến và truyền thống

Mua sắm trực tuyến khác biệt với mua sắm truyền thống ở những khía cạnh: không cần đến cửa hàng trực tiếp, có thể so sánh giá nhanh chóng, tiết kiệm thời gian và chi phí vận chuyển, nhưng có rủi ro về chất lượng sản phẩm và thông tin gian dối. Mô hình voucher kết hợp ưu điểm của cả hai hình thức, mang lại trải nghiệm mua sắm hiệu quả hơn cho khách hàng tại Đà Nẵng.

II. Các nhân tố ảnh hưởng quyết định mua voucher

Quyết định mua voucher trực tuyến của khách hàng bị tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm cả khía cạnh tâm lý, kinh tế và kỹ thuật. Nghiên cứu cho thấy nhận thức lợi íchnhận thức rủi ro là hai yếu tố chính quyết định. Sự giảm giátính tiện lợi tạo động lực mua mạnh mẽ, trong khi lo ngại an toàn thông tinchất lượng sản phẩm lại là những rào cản. Các đặc tính cá nhân như tuổi, giới tính, thu nhập, và trình độ giáo dục cũng ảnh hưởng đáng kể. Hiểu rõ những yếu tố này giúp các doanh nghiệp xây dựng chiến lược marketing phù hợp.

2.1. Nhân tố nhận thức lợi ích

Nhận thức lợi ích bao gồm: mức giảm giá hấp dẫn, đa dạng sản phẩm, tiện lợi mua sắm, và sự lựa chọn rộng. Khách hàng sẽ chủ động tìm kiếm voucher khi nhận thấy giá trị mua cao so với chi phí. Tính hấp dẫn của chương trình khuyến mãiđánh giá từ người dùng khác là những yếu tố làm tăng nhận thức lợi ích, từ đó thúc đẩy quyết định mua sắm.

2.2. Nhân tố nhận thức rủi ro

Nhận thức rủi ro bao gồm: rủi ro tài chính, rủi ro về sản phẩm, rủi ro bảo mật thông tin, và rủi ro liên quan đến dịch vụ khách hàng. Khách hàng lo ngại bị lừa đảo, mất tiền, hoặc nhận được sản phẩm chất lượng kém. Thiếu tin tưởng vào nền tảng bán hàng và quy trình thanh toán không an toàn là những rào cản chính. Xây dựng niềm tintính minh bạch là cách hiệu quả để giảm nhận thức rủi ro.

III. Ảnh hưởng của nhân tố nhân khẩu học

Các đặc điểm nhân khẩu học như giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp, thu nhập, và tình trạng hôn nhân có ảnh hưởng đáng kể đến quyết định mua voucher. Phụ nữ có xu hướng tìm kiếm voucher nhiều hơn nam giới, đặc biệt là các voucher dành cho dịch vụ làm đẹpmua sắm quần áo. Nhóm tuổi trẻ từ 18-35 tuổiđối tượng mua voucher chính, vì họ thành thạo công nghệcoi trọng tính tiết kiệm. Thu nhập cao hơn không nhất thiết dẫn đến mua voucher nhiều hơn, vì nhóm này có thể mua sản phẩm với giá gốc. Nghiên cứu cho thấy các nhân tố này có tác động rõ ràng lên hành vi tiêu dùng.

3.1. Ảnh hưởng của giới tính và độ tuổi

Phụ nữ thường có nhu cầu tìm kiếm giảm giá cao hơn so với nam giới, đặc biệt là cho các sản phẩm chăm sóc bản thân. Nhóm tuổi 25-34 tuổimua voucher nhiều nhất vì họ cân bằng giữa mong muốn tiết kiệmkhả năng chi tiêu. Những người trên 45 tuổi ít mua voucher hơn do kỹ năng kỹ thuậtniềm tin vào mua sắm trực tuyến thấp hơn.

3.2. Ảnh hưởng của thu nhập và tình trạng hôn nhân

Nhóm có thu nhập trung bình (5-10 triệu VND/tháng) là mua voucher nhiều nhất. Người độc thân tìm kiếm voucher để tiết kiệm chi phí cho các hoạt động giải trí, trong khi người đã lập gia đình tìm voucher cho dịch vụ gia đình. Những người có thu nhập thấp mua voucher vì mục đích tối ưu hóa ngân sách.

IV. Hàm ý chính sách và kiến nghị

Dựa trên các kết quả nghiên cứu, các doanh nghiệp cung cấp voucher trực tuyến tại Đà Nẵng cần phải điều chỉnh chiến lược kinh doanh để tăng tỷ lệ quyết định mua. Giải pháp về giá cả bao gồm thiết lập mức giảm giá hợp lý để cân bằng giữa lợi nhuận và sức hấp dẫn. Chiến lược về sản phẩm cần đa dạng hóa offerings để phục vụ các nhóm khách hàng khác nhau. Xây dựng tin tưởng thông qua tính minh bạch trong giao dịch, chính sách hoàn trả rõ ràng, và dịch vụ khách hàng chuyên nghiệp sẽ giảm nhận thức rủi ro của người tiêu dùng. Sử dụng marketing nhắm mục tiêu dựa trên đặc điểm nhân khẩu học sẽ tăng hiệu quả quảng cáo.

4.1. Giải pháp chiến lược marketing

Các nền tảng voucher nên tạo các chương trình khuyến mãi riêng cho từng nhóm tuổigiới tính. Chiến dịch quảng cáo nên nhấn mạnh yếu tố tiết kiệm cho nhóm thu nhập trung bình. Xây dựng cộng đồng người dùng thông qua review sản phẩm, feedback người dùng, và chương trình loyalty sẽ tăng niềm tinthúc đẩy mua lại.

4.2. Giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ

Cải thiện an toàn bảo mật trong quá trình thanh toán trực tuyếnưu tiên hàng đầu. Hệ thống xác thực hai lớp, mã hóa dữ liệu, và bảo hiểm giao dịch sẽ giảm lo ngại về bảo mật. Đảm bảo chất lượng sản phẩm bằng cách kiểm định nghiêm ngặt các nhà cung cấp và có chính sách hoàn tiền nhanh chóng sẽ xây dựng lòng tin khách hàng.

17/07/2025
Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua sắm voucher trực tuyến của khách hàng tại thành phố đà nẵng

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho giai đoạn phát triển mạnh mẽ của Internet tại Việt Nam. Tính tới hết Quý III/2012, Internet Việt Nam có 31.878 người sử dụng, chiếm tỉ lệ 35,49 % dân số. Việt Nam đứng thứ 18/20 quốc gia có số người dùng Internet lớn nhất thế giới, đứng thứ 8 khu vực Châu Á và đứng vị trí thứ 3 ở khu vực Đông Nam A (Asean). So với năm 2000, số lượng người ding Internet Việt Nam đã tăng khoảng hơn I5 lần.

Theo báo cáo thương mại điện tử năm 2012, Bộ công thương - Cục thương mại điện tử và công nghệ thông tin đã tiến hành khảo sát các doanh nghiệp trong cả nước. Phạm vi khảo sát bao gồm 5000 doanh nghiệp đang hoạt động, với ty lệ phan bé theo lĩnh vực, quy mô và khu vực địa lý tương, đồng với tỷ lệ phân bỗ chung của doanh nghiệp trên toàn quốc. Trong số 5000 doanh nghiệp tham gia khảo sát, 3400 doanh nghiệp (tương đương 68%) đã gởi về phiếu trả lời hợp lệ. Toàn bộ số liệu thống kê dựa trên việc xử lý và phân tích dữ liệu thu được từ 3400 phiếu hợp lệ.

70% 40% 50% 40% 30% 20% 10% 0 , 2008 20 2010 zm 2012 EDN sé xdy dung website trong 2012. m@ DN có website Hình 1.4: Tình hình sở hữu Website của doanh nghiệp qua các năm. (Nguồn: Báo cáo thương mại điện tử 2012, Bộ Công Thương) 21 Nam 2010 ty lệ doanh nghiệp có Website riêng ở mức 38%. Tuy nhiên, có 21% doanh nghiệp dự kiến sẽ xây dựng Website trong tương lai so với mức 17% của năm 2009.

Mặc dù tỷ lệ có Website giữa năm 2009 và 2010 giữ nguyên không đổi, nhưng do tỷ lệ doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng cao trong mẫu khảo sát năm nay. Số doanh nghiệp có website giảm do. giai đoạn này, tình hình kinh tế đang khó khắn, số doanh nghiệp tham gia khỏa sát thấp và tỉ lệ doanh nghiệp phá sản cao. Tuy nhiên sang đến năm.

Tình hình doanh nghiệp có website riêng tăng lên 42% và doanh nghiệp. dự kiến sẽ xây dựng website trong tương lai là 11%. Theo lĩnh vực hoạt động, tỷ lệ doanh nghiệp tài chính, công nghệ thông tin, và thương mại điện tử có Website riêng cao nhất, tương ứng với 75% và 66%. Các lĩnh vực còn lại tỷ lệ doanh nghiệp sở hữu Website nằm trong khoảng từ 359-509.TT wc oh nS ST 3% Không.

xay ơn: JNNNNUNNNNNEEEHHHHHHHssi< CCNIT, truyện hn; cs: © Sy duns TT 3 Vio, 20h) NNAMEEMMNnnnnnnnnnnnnsssu Căng hượng khoáng9 23% Tại hính, B dong cn _ NAANNNNNNNESEANNNN HH sunnss 0%, 0p, “.5: Tỷ lệ doanh nghiệp sở hữu Website riêng theo lĩnh vực hoạt động. 22 (Nguồn: Báo cáo thương mại điện tử 2012, Bộ Công Thương) Đây cũng chính là cơ hội và động lực thúc đẩy cho lĩnh vực thương mại điện tử của Việt Nam phát triển vững mạnh trong khu vực cũng như trên thé giới. Sự phát triển mua sắm trực tuyến tại Việt Nam Theo báo cáo Netcitizens Việt Nam năm 2012 nghiên cứu các hoạt động mà người sử dụng Internet thường làm khi tham gia trực tuyến, bao sồm 18 hoạt động trực tuyến khác nhau, được chia làm § loại: ~ Thu thập thông tin. ~ Giải trí trực tuyến.

~ Giao tiếp trực tuyến. ~ Blog và mạng xã hội ~ Kinh doanh trực tuyến. “S dụng tae wet tien None ae Nahin vu co epcong vite Enai Tạ ược Xenphm Namese din din a sinv Ou 9 | (ot gamteece ang web Vio ee tang mang xB Xembog (ho game tin ee ang ing Taphm Wit bog “`. “30 đụng ngân hàng tực tuyển % 2% 40% 00% 87% 000% Hình 1.6: Tỷ lệ các hoạt động trực tuyến 23 (Nguồn: Báo cáo Neteitizens Việt Nam năm 2012) ~ Hoạt động thực hiện thường xuyên nhất trên Intenet là thu thập thông.

tin, như đọc tin tức hay sử dụng các Website tìm kiếm. Gần như tắt cả người sử dụng Intenet Việt Nam đều sử dụng Google và đọc tin tức trực tuyến và hau hét trong số họ thậm chí truy cập hàng ngày. Internet cũng thường được. sử dụng đề nghiên cứu cho việc học hay cho công việc.

~ Hoạt động trực tuyến chủ chốt thứ hai là giải trí. Âm nhạc là hoạt động phổ biến nhất của lĩnh vực này, gần 80% số người sử dụng Intemet nghe nhạc và hơn 60% đã tải nhạc trực tuyến. Một nửa trong số họ xem phim trực tuyến, và một phần năm trong số họ đã từng tải phim về. Chơi game trực tuyến có tỷ lệ thấp hơn (khoảng 30%) nhưng các game trên Website trò chơi (trò chơi có thể chơi trực tuyến trên Website đó mà không cẩn phải tải về máy) được sử dụng nhiều hơn với chơi game ứng dụng trực tuyến (trò chơi mà trước tiên cần phải tải và cài đặt về máy tính).

~ Giao tiếp cũng là một hoạt động chủ yếu trên mạng Internet. Các hoạt động chính trong lĩnh vực này là chaUtán gẫu và emailthư điện tử. Với các Website và ứng dụng tương tác trực tuyến mới, người sử dụng không chỉ có cơ hội tìm được thông tin mà cũng đóng góp phẩn nội dung riêng của họ. Mạng xã hội, Blog, Facebook được sử dụng một cách thường xuyên, 36% số người sử dụng Internet là thành viên của mạng xã hội và 20% có viét Bolg.

~ Thương mại điện tử vẫn đang trên đà phát triển. Hầu hết các trang phổ biến là các Website đấu giá và mua bán, nơi có 40% người sử dụng đã từng viếng thăm. Ngân hàng trực tuyến vẫn đang phát triển mạnh mẽ. Mức độ sử dụng các Website mua hàng trực tuyến và ngân hàng trực tuyến tăng.

trưởng mạnh trong vài năm trở lại đây. Thông qua sự phát triển của mua sắm. trực tuyến tại Việt Nam, việc áp dụng cũng như đưa mô hình Groupon vào. 'Việt Nam là hết sức cần thiết.3 Sự phát triển mô hình Groupon tại Việt Nam Theo Research Report, 2011, SharesPost Inc, CandleStick Advisors Pvt Ltd and Nextup Network *.

Groupon duge sang lap béi Andrew Mason vao tháng 11-2008. Groupon có trụ sở tại Chicago, Mỹ. Mô hình kinh doanh Groupon có tên ban đầu là Thepointcom, sau một thời gian không thu được doanh thu từ quảng cáo, Thepoint.com đổi tên thành Groupon. Chiếm tới gần 8.000m” trong một nhà kho § tầng ở khu vực sông Bắc tại Chicago, công ty có 3.100 nhân viên, hiện Groupon đã có hơn 50 triệu người dùng ở 40 quốc gia, cung cấp các đề nghị giảm giá ở 300 thành phố (ở Mỹ.

hơn 150 thành phố) ngoài ra ở Canada, Châu Âu và Châu Mỹ La Tỉnh. ty này hiện đang nắm chắc khả năng đạt mức lợi nhuận trên 500 triệu USD. Trong tháng 11-2010, Groupon đã bắt đầu mở rộng sang thị trường Châu Á bằng việc thâu tóm nhiều Website nhỏ hơn ở cùng lĩnh vực và chính thức có mặt ở Hong Kong, Singapore, Philippines và Đài Loan. Đầu năm 2011 Groupon đã mở rộng sang.

thị trường Ấn Độ, Nam Phi, Isarel, Malaysia Chi đi sau mô hình tại Mỹ hơn một năm, vào nửa cuối năm 2010, các kênh trung gian như Groupon đã lần lượt xuất hiện tại Việt Nam với tên Voucher khuyến mãi trực tuyến, bắt đầu làm cho người tiêu dùng quen với hình thức mới mẻ này. Phununet là đơn vị đầu tiên áp dụng mô hình này khi đưa ra phiên bản thử nghiệm Grouponvn vào tháng 5/2010 sau đó chuyển thành Phagia. Danh sách các trang web tiếp tục dài thêm và có sự xuất hiện của của các đơn vị lớn. Tính đến nay đã có hơn 20 Website theo mô hình này đã ra đời.

Các Website bán Voucher không ngừng lớn mạnh và nhận được sự: * Ngudn website: hp:/vww.com 25 ủng hộ mạnh mẽ từ phía cộng đồng người tiêu dùng.vn công bồ trên Website của họ (ngày 11- 04-2013) thì tổng số tiền tiết kiệm được là: 162,792,440,800 đồng và tông giá trị hang đã ban 1a: 321,625,028,800 đồng. Bên cạnh đó Website cungmua.vn cũng công bố trên Website của họ thông tin (ngày 11-04-2013) tổng số phiếu đã được mua: 757.810 phiếu, tổng số tiền đã tiết kiệm là: 145,362,336,500 đồng. Đây là con số hết sức ấn tượng đối với ngành dịch vụ còn mới mẻ này ở Việt Nam. Với 20 Website bán Voucher hiện nay, thị trường này hết sức sôi động, các Website đã có mặt ở các khu vực lớn như: Hà Nội, Hồ Chí Minh, Nha Trang, Đà Nẵng, Cần Thơ và cung cấp tất cả các loại hàng hóa và dịch vụ được thể hiện trong Hình 1.7 Nha khoa, Nha hang, địch vụ sức quan ăn, cà khỏe phê Khóa học Shop thời ngoại ngữ.

trang, mỹ phim, salon Dụng cụ hàng điện tir Hình 1.7: Các loại hình hàng hóa, dịch vụ Voucher cung cấp. 26 Mỗi Website bán Voucher tủy theo quy mô và phạm vi hoạt động mà số lượng sản phẩm hàng hóa dịch vụ khác nhau. Những Website lớn thì luôn được cập nhật sản phẩm mới nên số lượng khách truy cập thường xuyên rất lớn, vì vậy họ sở hữu một lượng thành viên rất cao. Tùy theo Website mà cách bố trí giao diện thông tin, các điều khoản giao dịch như giao hàng, thanh toán cũng khác nhau.

Những Website lớn thì phương thức thanh toán và giao hàng hết sức đa dạng, sản phẩm luôn được cập nhật vì thế luôn thu hút được khách hàng truy cập vào Website. Ở nước ta, mô hình bán hàng mới mẻ này đang phát triển với tốc độ khá nhanh. Tỷ lệ giảm giá cao cùng với số lượng người mua đông đảo sẽ giúp đơn vị cung cấp sản phẩm, dịch vụ nhanh thu lợi nhuận, người tiêu dùng thì được sở hữu sản phẩm. dịch vụ với giá ưu đãi, Website bán Voucher ăn được tiền hoa hồng từ mỗi đơn hàng và gia tăng thành viên nhanh chóng.

Nhiều sản phẩm ưu đãi tốt vừa tung ra vài ngày đã có hàng ngàn người đăng ký mua. Voucher khuyến mãi trực tuyến Từ Voucher được sử dụng rất nhiều trong các lĩnh vực như kế toán, điện tử, kỉ thuật, kinh tế và nó có rất nhiều ý nghĩa khác nhau. Xét theo lĩnh vue mua sắm trực tuyến thì Voucher có nghĩa là 'Voucher" là một phiếu mua hàng được khuyến mãi (giảm giá) thông qua hình thức mua hàng trực tuyến, khách hàng đã thanh toán tiền trước khi sử dụng Voucher. Số tiền thanh toán mua Voucher thấp hơn giá trị sử dụng.

thể hiện trên Voucher. Nó phụ thuộc vào tỷ lệ khuyến mãi (phần trăm giảm giá) của nhà cung cấp sản phẩm, dịch vụ. Người mua sẽ dùng phiếu này tới nơi cung cấp để mua sản phẩm, dịch vụ theo giá trị ghi trên phiếu mua hàng.org/wiki/Voucher 27 5. Hình thức của một.

Voucher 'Voucher thường có 2 loại dạng đó là phiếu in và phiếu điện tử Hình 1.8 Voucher phiếu in Xin chào Noname, LQuy khách nhận được cmmai này đo đã mua hàng và thanh toàn thành công trên Muạc hung v (a on havi 5289508-1371570076) MusChưng kinh gửi Quý khách Phiều mua hàng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ