Chương 1: Cơ sở lý luận về năng lực quản lý của cán bộ quản lý trong các trường tiêu học và THCS: Chương 2: Thực trạng năng lực quản lý của cán bộ quản lý trong các trường tiểu học và THCS trên địa bàn huyện Tiên Lữ tỉnh Hưng Yên. Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực quản lý cán bộ quản lý trong các trường tiêu học và THCS trên địa bàn huyện Tiên Lữ tỉnh Hưng Yên trong giai đoạn hiện nay. CHUONG 1: CO SG LY LUAN VE NANG LUC QUAN LY CUA CAN BQ QUAN LY TRONG CAC TRƯỜNG TIỂU HỌC VÀ THCS.1 Khái niệm năng lực quản lý Có thể hiểu khái niệm chung về năng lực theo nhiều quan niệm và cách tiếp cận khác nhau. Trong khuôn khổ của luận văn này chúng tôi chỉ đưa ra một số quan điểm chủ yếu sau: Theo quan điểm của những nhà tâm lý học.
Năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phủ hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động, nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao. “Quan lý là nghệ thuật biết rõ rằng chính xác cái gì làm và làm đó như thể nào, bằng phương pháp nào tốt nhất và rẻ nhất” Harold Koout cho rằng “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích nhóm. Mục tiêu của nhà quản lý là hình thành một môi trường mà con người có thể đạt được mục đích nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bắt mãn ít nhất. Với tư cách thực hành thi quản lý là một nghệ thuật, còn với kiến thức thì quản lý là một khoa học.
Lê-nin đã vạch ra đầy đủ các cấu trúc của năng lực tổ chức chỉ ra những thuộc tính cần thiết cho người cán bộ tổ chức là bắt cứ người lãnh đạo nào cũng cần phải có “su minh man va tài sắp xếp inh cởi mở hay là năng lực thâm nhập vào các nhóm người” “sự sắc sảo về trí tuệ và óc tháo vát thực tiến”. Các phẩm chất ý khả năng hiểu biết mọi người và kỹ năng tiếp xúc với eon người. Do đó khi xem xét kết quả công việc của một người cần phân tích rõ những, yếu tố đã làm cho cá nhân hoàn thành công việc, người ta không chỉ xem cá nhân đó làm gì, kết quả ra sao mà còn xem làm như thế nào. Chính năng lực thể hiện ở chỗ người ta làm tốn ít thời gian, sức lực của cải vật chất mà kết quả lại tốt.
Theo tác giả Bùi Minh Hiển “Quản lý là hoạt động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý đạt mục tiêu đề ra. Theo tác giả Trần Quốc Thành “quản lý là hoạt động có ý thức của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều chỉnh, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí nhà quản lý và phủ hợp với quy luật khách quan. 'Từ những khái niệm năng lực quản lý nêu trên ta có thể rút ra được những dấu hiệu chung chủ yếu về bản chất của hoạt động quản lý. Hoạt động quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội là sự tác động có hướng đích, có sự phối hợp nỗ lực của các nhân nhằm thực hiện mục tiêu đề ra với hiệu quả cao nhất, phù hợp với quy luật khách quan.
~ Hoạt động quản lý gồm hai phần chủ yếu là + Chủ thể quản lý (ai quản lý): chỉ có thể là con người hoặc một tổ chức cho. ‘con người cụ thể lập. + Đối tượng quản lý (quản lý ai) quản lý cái gì, quản lý công việc gì: Đó có thể là người, tổ chức, vật chất hay sự việc. ~_ Chủ thể quản lý và đối tượng quản lý có tác động qua lại.
Chủ thể quản lý làm nảy sinh các tác đông quản lý còn đối tượng quản lý thi sản sinh ra các giá trị vật chất và tỉnh thần có giá trị sử dụng, trực tiếp đáp ứng nhu cầu của. con người thỏa mãn mục đích của chủ thể quản lý. Trong hoạt động quản lý, chủ thể quản lý phải có những tác động phủ hợp và sắp xếp các tác động đó một cách hợp lý làm cho đối tượng quản lý thay đổi trạng thái (từ lôn xôn thành trật tự theo ý chí và mục tiêu của nhà quản lý) Mỗi tổ chức đều cần có sự quản lý và có người quản lý để tổ chức hoạt động và đạt được mục đích. Vậy hoạt động quản lý là ø Quản lý là một hoạt động đặc biệt, có tính sáng tạo, có tính nghệ thuật.
Hoạt động quản lý phát triển không ngừng gắn liền với quá trình phát triển, đó là sự phân công chuyên môn hóa lao động hợp lý. Sự phân công chuyên môn hóa lao động quản lý là cơ sở hình thành các chức năng quản lý. Chức năng quản lý: Là những loại công việc quản lý khác nhau mang tính độc lập tương đối được hình thành trong quá trình chuyên môn hóa các hoạt động quản lý. Quản lý phải thực hiện nhiều chức năng khác nhau: Chức năng quản lý có chức năng cơ bản, chức năng cụ thí ¡ nhiều cách tiếp cân khác nhau nhưng cơ bản các tác giả đều thống nhất bốn chức năng cơ bản: Chức năng hoạch định, chức năng tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra.
~ Chức năng hoạch định: bao gồm những hoạt động quản lý nhằm xác định mục. tiêu trong tương lai và những phương tiện thích hợp để đạt tới mục tiêu đó. Kết quả của chức năng hoạch định là một bản kế hoạch, một văn bản xác định những phương, hướng hành động mà tổ chức đó sẽ thực hiện. Như vậy hoạch định là phương thức xử lý và giải quyết các vấn đề có kế hoạch cụ thể từ trước.
Trong tắt cả các chức năng quản lý. Chức năng hoạch định là chức năng đầu tiên, chức năng cơ bản dé hoàn thành các chức năng khác. Trong quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, xác định chức năng hoạch định có ý nghĩa sống còn đối với sự tổn tại, vận hành và phát triển của nhà trường. 7 Chức năng tổ chức: Tổ chức có nghĩa là quá trình sắp xếp và bố trí các công.
việc, giao quyền hạn và phân phối các nguồn lực của tô chức sao cho chúng đóng góp một cách tích cực và có hiệu quả vào mục tiêu chung. Như vậy chức năng tổ chức là mí trong những chức năng quan trọng của quy trình quản lý. Mục đích của chức năng tổ chức là nhằm đảm bảo cung cắp đầy đủ, kịp thời số lượng, chất lượng nhân lực. Chức năng tổ chức hướng đến việc phân chia những nhiệm vụ chung thành những công việc cụ thể cho từng bộ phận với những.
quyền hạn tương ứng. Từ đó xác định những nhiệm vụ thực hiện để đạt được mục tiêu chung, nhóm gộp các hoạt động thành những bộ phận, phân công người phụ trách các bộ phận và công việc của từng bộ phận đó. Trong quản lý giáo dục, quản lý nhà trường. điều quan trọng nhất của công tác tổ chức là phải xác định rõ được vai trỏ, vị trí của mỗi cá nhân, mỗi bộ phận, đảm bảo mối liên kết giữa các cá nhân, các thành viên, các bộ phận tạo nên sự thống nhất và đồng bộ.
Chức năng chỉ đạo: Là quá trình tác động ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến hành vi và thái độ của con người (khách thê quản lý) nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Chức năng kiểm tra: Kiểm tra là một chức năng quan trọng trọng hoạt động quản lý, quản lý mà không có kiểm tra thì coi như không có quản lý. Tóm lại: Hoạch định, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra là các chức năng cơ bản được hình thành trong sự phân công và chuyên môn hóa hoạt động quản lý. Chức năng hoạch định „| Chức năng tổ chức Quản lý }—} | —_,,Ì Chức năng chỉ đạo —— ¿| Chức năng kiểm tra hệ giữa các chức năng quản lý Nguồn: Trường Quản lý giáo dục TH 1 Hà Nội quản lý giáo dục, quản lý trường học * Khái niệm quản lý giáo dục Cũng như khái niệm quản lý, khái niệm quản lý giáo dục tuy vẫn còn nhiều quan điểm chưa hoàn toàn thống nhất song đã có nhiều quan điểm cơ bản đồng nhất với nhau.
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng. Theo tác giả Đỗ Hoàng Toàn: Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp tổ chức, phương pháp giáo dục, kế hoạch hóa, tải chính. nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, bảo đảm sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cá về mặt số lượng cũng như chất lượng. Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát: Là những tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở mọi cấp khác nhau, n tất cả các mắt xích của toàn bộ hệ thống nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở quy luật của quá trình giáo dục về sự phát triển thể lực, trí lực và tâm tư trẻ em Quản lý vĩ mô.
Quan lý giáo dục Quan lý vì mí > Quan ly nha nước Quản lý giáo dục |_| Quan ly nha trường Hình 1.2 Sơ đồ hoạt động quản lý giáo dục. Nguôn: Trường Quản lý giáo duc TW 1 Ha Noi Hoạt động quản lý giáo dục có hai chức năng tổng quát: ~ Chức năng ổn định duy trì quá trình đào tạo đáp ứng yêu cầu của nên kinh tế xã hội. ~ Chức năng đổi mới phát triển quá trình đảo tạo đón đầu khoa học - kỹ thuật từ chức năng tổng quát trên, quản lý giáo dục cũng phải gắn bó với bốn chức năng cụ + Kế hoạch hóa: Đưa mọi hoạt động giáo dục vào kế hoạch hóa với mục tiêu, biện pháp rõ ràng, bước đi cụ th, chuẩn bị các điều kiện cung ứng cho việc thực hiện các mục tiêu. + Tổ chức: Hình thành và phát triển tổ chức tương xứng với xứ mệnh, với nhiệm vụ chính trị, với mục tiêu dai hạn, ngắn hạn và trung hạn.
+ Chỉ huy: Điều hành chức năng này thường mang tính tác ngl Trong điều hành cần tập trung, thống nhất điều khiển. + Kiểm tra: Công việc này cần gắn bó với sự đánh giá tổng kết kinh nghiệm.