Chương 1 trình bày lý do hình thành đề tài nghiên cứu; từ đó xác định mục tiêu nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài nghiên cứu và bố cục của đề tài nghiên cứu. Chương 2 trình bày một số khái niệm, cơ sở lý thuyết của các khái niệm nghiên cứu liên quan đến mô hình nghiên cứu, đề xuất mô hình nghiên cứu và các giả thuyết cho mô hình nghiên cứu. Chương 3 trình bày phương pháp nghiên cứu để kiểm định thang đo và mô hình lý thuyết cùng các giả thuyết đề ra. Chương 4 trình bày thống kê mô tả của mẫu thu thập được và các kết quả phân tích định lượng trong việc kiểm định thang đo, kiểm định mô hình lý thuyết cùng các giả thuyết đề ra.
Cuối cùng, chương 5 tóm tắt lại những kết quả chính và đóng góp của đề tài nghiên cứu, đưa ra một số kiến nghị cũng như một số hạn chế của nghiên cứu để định hướng cho những nghiên cứu tiếp theo. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương này trình bày một số khái niệm, đề ra cơ sở lý thuyết của các khái niệm nghiên cứu liên quan đến đề tài nghiên cứu. Từ đó, đề xuất mô hình nghiên cứu và các giả thuyết cho mô hình nghiên cứu. Sự đổi mới – Innovation Thuật ngữ này bắt nguồn từ tiếng Latin: ‘innovare’, nghĩa là “làm cái gì đó mới”.
Về bản chất, đổi mới là một quá trình chuyển cơ hội thành những ý tưởng mới và đưa những ý tưởng này trở thành hoạt động thực tiễn, sử dụng rộng rãi (Tidd et al. Cũng theo Tidd et al. (1997), đổi mới là quá trình cốt lõi liên quan đến việc làm mới những gì tổ chức cung cấp, tối ưu hóa cách tạo và phân phối đầu ra của tổ chức. Đổi mới có thể được phân loại theo bản chất của sự thay đổi mà nó mang lại, tức là theo mức độ mới lạ.
Theo Rothwell và Gardiner (1985), sự đổi mới không nhất thiết chỉ bao gồm việc thương mại hóa của một tiến bộ lớn trong công nghệ (gọi là đổi mới cơ bản – radical innovation) mà nó bao gồm việc tận dụng ngay cả những thay đổi có quy mô nhỏ trong “bí quyết” công nghệ (gọi là cải tiến hay đổi mới gia tăng – improvement hoặc incremental innovation). Burgelman et al. (1996) cũng chỉ ra những loại hình đổi mới cụ thể là đổi mới gia tăng – incremental innovation, đổi mới cơ bản – radical innovation và đổi mới kiến trúc – architectural innovation. Theo quan điểm của họ, đổi mới gia tăng bao gồm sự thích nghi, sàng lọc, nâng cao các sản phẩm, dịch vụ hiện tại và/hoặc hệ thống sản xuất, phân phối hiện tại (ví dụ: thế hệ kế tiếp của bộ vi xử lý).
Đổi mới cơ bản bao gồm toàn bộ danh mục sản phẩm, dịch vụ mới và/hoặc hệ thống sản xuất, phân phối mới (chẳng hạn: truyền thông không dây). Đổi mới kiến trúc liên quan đến việc cấu hình lại hệ thống thành phần cấu thành sản phẩm (ví dụ: thu nhỏ các bộ phận chính trong máy radio). 6 Damanpour (1990) chia sự đổi mới thành ba loại, cụ thể là đổi mới công nghệ - technology innovation, đổi mới hành chính – administrative innovation, và đổi mới bổ sung – ancillary innovation. Đổi mới là quá trình doanh nghiệp phát triển các sản phẩm, dịch vụ, quy trình hay hệ thống quản lý mới để đáp ứng các yêu cầu do sự thay đổi của môi trường kinh doanh, công nghệ hay mô hình cạnh tranh.
Đổi mới gồm nhiều công đoạn, từ nghiên cứu lập kế hoạch đến tìm kiếm các giải pháp kỹ thuật và thương mại hóa. Nói cách khác, chỉ khi doanh nghiệp biến một phát minh thành sản phẩm, dịch vụ mới, bán được ra thị trường (đáp ứng nhu cầu khách hàng) và mang lại lợi nhuận thì mới được coi là đổi mới. Trong khi đó, không phải phát minh nào cũng dẫn tới thỏa mãn nhu cầu khách hàng. Khả năng phát minh thường thể hiện qua số lượng sáng chế được đăng ký bản quyền.
Theo Bessant et al. (2005), Đổi mới có thể được mô tả như là một vấn đề của tìm kiếm ý tưởng, lựa chọn ý tưởng, thực hiện ý tưởng đã được lựa chọn và nắm bắt chúng. Quá trình tìm kiếm ý tưởng tập trung vào việc làm thế nào để tìm ra cơ hội đổi mới, trong khi lựa chọn ý tưởng đề cập đến việc làm cái gì và tại sao; Cuối cùng, thực hiện ý tưởng đã được lựa chọn và nắm bắt chúng là làm thế nào để nó xảy ra và làm thế nào để có được những lợi ích từ việc đổi mới đó. Trạng thái ổn định - Steady state và Không liên tục – Discontinuous Có hai kiểu mẫu trong cách đổi mới tổ chức: Trạng thái ổn định và không liên tục.
Greenwood và Hinings (1993) đưa ra các yếu tố để phân biệt hai kiểu mẫu như trong Bảng 2.1: Phân biệt giữa hai kiểu mẫu Trạng thái ổn định và Không liên tục Trạng thái ổn định Không liên tục Không có quy luật rõ ràng – những quy Cách thức nhận thức dựa trên các quy luật này xuất hiện theo thời gian. luật rõ ràng và được chấp thuận. Cố gắng chấp nhận sự không rõ ràng Đường lối chiến lược độc lập, khẩn cấp, Đường lối chiến lược phụ thuộc tìm kiếm và học hỏi Môi trường lựa chọn rõ ràng Môi trường lựa chọn mơ hồ, khẩn cấp Lựa chọn và định vị nguồn lực liên kết Chấp nhận rủi ro, đánh cược nhiều lần với những quỹ đạo rõ ràng và tiêu chuẩn cùng lúc và chấp nhận lỗi. Vận hành các công việc thường quy một Vận hành một cách mơ hồ, không rõ cách tinh chế và ổn định.
Những mối liên kết chặt chẽ và dòng chảy kiến thức được truyền đi theo nhiều Liên kết yếu và định hướng xa trọng tâm kênh rõ ràng. Đổi mới không liên tục – Discontinuous innovation Đổi mới không liên tục là một khái niệm mơ hồ, do có nhiều thuật ngữ được sử dụng có thể thay thế nhau để chỉ cho cùng khái niệm này, chẳng hạn như đổi mới cơ bản, đổi mới đột phá hay đổi mới mang tính phá vỡ. Tuy nhiên, phần lớn các tác giả hướng đến cùng khái niệm, cụ thể đó là những đổi mới có thể tạo ra những đường hướng kinh doanh mới cho bản thân doanh nghiệp, cho thị trường (O’Connor và Veryzer, 2001) và có thể không rõ ràng đối với khách hàng (Abernathy và Utterback, 1988). Một số đổi mới không liên tục có thể tập trung nhiều hơn vào phân khúc thị trường mang lại hiệu quả, giá trị cao và nhằm mục đích thâm nhập vào thị trường chủ đạo.
Những đổi mới này thường được định 8 hướng bởi những đột phá về mặt công nghệ hoặc ý tưởng, đòi hỏi những thay đổi hành vi đáng kể với thị trường hiện tại, do đó phải mất một thời gian dài để phát triển (McDermott và O’Connor, 2002). Một số đổi mới không liên tục khác có thể tập trung nhiều hơn vào thị trường cấp thấp và mang lại hiệu quả thấp. Kiểu đổi mới này đòi hỏi công nghệ đủ tốt với các tính năng đặc biệt chưa được đánh giá bởi một thị trường đã được thành lập. Theo Kassicieh và Walsh (2002), chúng yêu cầu công tác phát triển thị trường hoặc tiếp thị ban đầu.
Khám phá và Khai thác Khám phá và khai thác là hai phương pháp tiếp cận cơ bản trong học tập tổ chức. Khám phá là những hành vi của doanh nghiệp mô tả bằng việc tìm kiếm, khám phá, thử nghiệm, chấp nhận rủi ro và sự đổi mới. Trong khi đó, khai thác lại mô tả hành vi sàng lọc, thực thi, đánh giá tính hiệu quả, sản xuất và lựa chọn (Cheng và Van de Ven, 1996; March, 1991). Không dễ dàng để định nghĩa chính xác hai loại hình này, nhưng chỉ có một sự khác biệt chính mà chúng ta cần tập trung.
Sự khám phá là một quá trình lâu dài, đi kèm với rủi ro, và kết quả thường không chắc chắn. Trong khi sự khai thác thì ngược lại là quá trình ngắn hạn, mang tính tức thì và đi kèm với lợi ích (March, 1991). Ngược lại, sự khám phá nhằm đáp ứng cũng như thúc đẩy xu hướng của môi trường còn tìm ẩn bằng cách tạo ra công nghệ tiên tiến và thị trường mới (Nonaka, 1994). Đổi mới theo kiểu khám phá và Đổi mới theo kiểu khai thác Đổi mới theo kiểu khám phá là đổi mới cơ bản và được thiết kế để đáp ứng nhu cầu của khách hàng và thị trường mới nổi (Benner và Tushman, 2003; Danneels, 2002).
Doanh 9 nghiệp cung cấp thiết kế mới, tạo thị trường mới và phát triển các kênh phân phối mới (Abernathy và Clark, 1985). Đổi mới theo kiểu khám phá đòi hỏi phải có kiến thức mới hoặc khởi đầu từ kiến thức hiện tại (Benner và Tushman, 2002; Levinthal và March, 1993; McGrath, 2001). Ngược lại, đổi mới theo kiểu khai thác là đổi mới gia tăng và được thiết kế để đáp ứng nhu cầu của khách hàng hoặc thị trường hiện tại (Benner và Tushman, 2003; Danneels, 2002). Doanh nghiệp làm tăng kiến thức và kỹ năng hiện tại, cải thiện thiết kế, mở rộng sản phẩm và dịch vụ hiện có, đồng thời nâng cao hiệu quả của kênh phân phối hiện tại (Abernathy và Clark, 1985).
Do đó, đổi mới theo kiểu khai thác được xây dựng dựa trên kiến thức hiện tại và củng cố kỹ năng, quy trình và cấu trúc hiện có (Abernathy và Clark, 1985; Benner và Tushman, 2002; Levinthal và March, 1993; Lewin et al. Tìm kiếm ý tưởng Giai đoạn tìm kiếm ý tưởng thuộc vùng phía trước mờ nhạt trong quá trình phát triển sản phẩm mới. Vùng phía trước mờ nhạc là khái niệm được khởi xướng đầu tiên bởi Smith và Reinertsen (1991), đây là giai đoạn đầu tiên của quá trình phát triển sản phẩm mới, biểu thị tất cả các thời gian và hoạt động dành cho một ý tưởng trước khi chính thức thảo luận về ý tưởng đó, đồng thời nhấn mạnh quá trình trước quá trình đổi mới của tổ chức (Cohen and Levinthal, 1990). Theo Crawford và Di Benedetto (2005), vùng phía trước mờ nhạt chia làm hai giai đoạn, cụ thể là giai đoạn tìm kiếm ý tưởng bao gồm các hoạt động liên quan đến hình thành ý tưởng, quản trị ý tưởng và định vị các cơ hội; trong khi đó, giai đoạn lựa chọn ý tưởng thì bao gồm lựa chọn ý tưởng và phát triển khái niệm.
10 TÌM KIẾM LỰA CHỌN THỰC HIỆN - Hình thành ý tưởng - Lựa chọn ý tưởng - Quản trị ý tưởng - Phát triển khái niệm - Định vị cơ hội Vùng phía trước mờ nhạt Phát triển sản phẩm mới Hình 2.1: Giai đoạn tìm kiếm ý tưởng của quá trình đổi mới “Nguồn: Aloini, D.