Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh kiểm định mối quan hệ giữa tìm kiếm ý tưởng hoạt động khám phá và hiệu quả trong đổi mới của doanh nghiệp tại tp hcm

Luận văn thạc sĩ kinh tế phân tích kinh doanh kiểm định mối quan hệ giữa tìm kiếm ý tưởng hoạt động khám phá và hiệu quả trong đổi mới, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2017

127
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu và bối cảnh nghiên cứu

Luận văn thạc sĩ này tập trung vào việc kiểm định mối quan hệ giữa tìm kiếm ý tưởng, hoạt động khám pháhiệu quả đổi mới doanh nghiệp tại TP.HCM. Nghiên cứu được thực hiện trong bối cảnh các doanh nghiệp Việt Nam đang đối mặt với thách thức trong việc duy trì và phát triển khả năng cạnh tranh thông qua đổi mới sáng tạo. Mặc dù nhiều doanh nghiệp nhận thức được tầm quan trọng của đổi mới, nhưng việc thực hiện hiệu quả vẫn còn hạn chế. Nghiên cứu này dựa trên mô hình của Aloini và Martini (2013) để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả đổi mới.

1.1. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chính của nghiên cứu là kiểm định mối quan hệ giữa tìm kiếm ý tưởng, hoạt động khám pháhiệu quả đổi mới trong các doanh nghiệp tại TP.HCM. Nghiên cứu nhằm cung cấp cơ sở lý thuyết và thực tiễn để các doanh nghiệp có thể xây dựng chiến lược đổi mới phù hợp, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh.

1.2. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu tập trung vào các doanh nghiệp Việt Nam tại TP.HCM, với đối tượng khảo sát là các nhà quản lý từ cấp cơ sở trở lên. Phạm vi nghiên cứu bao gồm việc phân tích các yếu tố như tìm kiếm thông tin, quản lý đổi mới, và tư duy sáng tạo trong quá trình đổi mới của doanh nghiệp.

II. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu

Nghiên cứu dựa trên các khái niệm cơ bản về đổi mới sáng tạo, tìm kiếm ý tưởng, và hoạt động khám phá. Đổi mới sáng tạo được định nghĩa là quá trình chuyển đổi ý tưởng thành các sản phẩm, dịch vụ hoặc quy trình mới, mang lại giá trị cho doanh nghiệp. Tìm kiếm ý tưởng bao gồm các hoạt động như học hỏi từ thị trường, quản lý mạng lưới, và mở rộng nguồn lực bên ngoài. Hoạt động khám phá liên quan đến việc thử nghiệm các ý tưởng mới và khám phá năng lực mới của doanh nghiệp.

2.1. Mô hình nghiên cứu đề xuất

Mô hình nghiên cứu đề xuất dựa trên mô hình của Aloini và Martini (2013), bao gồm ba yếu tố chính: tìm kiếm ý tưởng, hoạt động khám phá, và hiệu quả đổi mới. Nghiên cứu giả định rằng mức độ tìm kiếm ý tưởng cao sẽ dẫn đến mức độ hoạt động khám phá cao, và từ đó ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả đổi mới của doanh nghiệp.

2.2. Các giả thuyết nghiên cứu

Nghiên cứu đưa ra hai giả thuyết chính: (1) Mức độ tìm kiếm ý tưởng cao sẽ dẫn đến mức độ hoạt động khám phá cao; (2) Mức độ hoạt động khám phá cao sẽ dẫn đến hiệu quả đổi mới cao. Các giả thuyết này được kiểm định thông qua phương pháp phân tích dữ liệu định lượng.

III. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện qua hai giai đoạn chính: nghiên cứu sơ bộnghiên cứu chính thức. Nghiên cứu sơ bộ sử dụng phương pháp định tính thông qua phỏng vấn chuyên gia và phỏng vấn thử để hiệu chỉnh các yếu tố nghiên cứu. Nghiên cứu chính thức sử dụng phương pháp định lượng với việc thu thập dữ liệu từ 252 nhà quản lý tại các doanh nghiệp TP.HCM.

3.1. Nghiên cứu định tính

Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua phỏng vấn 3 chuyên gia và 10 đối tượng khảo sát. Mục tiêu là khám phá và hiệu chỉnh các yếu tố nghiên cứu, đảm bảo tính phù hợp của thang đo trước khi tiến hành nghiên cứu định lượng.

3.2. Nghiên cứu định lượng

Nghiên cứu định lượng sử dụng bảng câu hỏi để thu thập dữ liệu từ 252 nhà quản lý. Dữ liệu được phân tích bằng các phương pháp như phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích nhân tố khẳng định (CFA), và mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu.

IV. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy các giả thuyết đều được chấp nhận. Mức độ tìm kiếm ý tưởng cao có tác động tích cực đến hoạt động khám phá, và hoạt động khám phá cao lại có tác động tích cực đến hiệu quả đổi mới. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các doanh nghiệp cần tập trung vào việc cải thiện quy trình tìm kiếm thông tinquản lý đổi mới để nâng cao hiệu quả đổi mới.

4.1. Đánh giá độ tin cậy của thang đo

Các thang đo được đánh giá thông qua hệ số Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá (EFA). Kết quả cho thấy các thang đo đều đạt độ tin cậy cao, đảm bảo tính chính xác của dữ liệu.

4.2. Kiểm định mô hình nghiên cứu

Mô hình nghiên cứu được kiểm định bằng phương pháp SEM. Kết quả cho thấy mô hình phù hợp với dữ liệu thực tế, và các giả thuyết nghiên cứu đều được chấp nhận. Điều này khẳng định tầm quan trọng của tìm kiếm ý tưởnghoạt động khám phá trong việc nâng cao hiệu quả đổi mới của doanh nghiệp.

V. Kết luận và kiến nghị

Nghiên cứu đã khẳng định mối quan hệ giữa tìm kiếm ý tưởng, hoạt động khám pháhiệu quả đổi mới trong các doanh nghiệp tại TP.HCM. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp các doanh nghiệp xây dựng chiến lược đổi mới hiệu quả, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường.

5.1. Đóng góp của nghiên cứu

Nghiên cứu đã bổ sung vào cơ sở lý thuyết về đổi mới sáng tạo và cung cấp các bằng chứng thực tiễn về mối quan hệ giữa tìm kiếm ý tưởng, hoạt động khám pháhiệu quả đổi mới. Điều này giúp các doanh nghiệp hiểu rõ hơn về vai trò của các yếu tố này trong quá trình đổi mới.

5.2. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu có một số hạn chế như phạm vi nghiên cứu chỉ giới hạn tại TP.HCM và mẫu nghiên cứu chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng phạm vi địa lý và tập trung vào các doanh nghiệp lớn để có cái nhìn toàn diện hơn.

21/02/2025
Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh kiểm định mối quan hệ giữa tìm kiếm ý tưởng hoạt động khám phá và hiệu quả trong đổi mới của doanh nghiệp tại tp hcm

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 trình bày lý do hình thành đề tài nghiên cứu; từ đó xác định mục tiêu nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài nghiên cứu và bố cục của đề tài nghiên cứu. Chương 2 trình bày một số khái niệm, cơ sở lý thuyết của các khái niệm nghiên cứu liên quan đến mô hình nghiên cứu, đề xuất mô hình nghiên cứu và các giả thuyết cho mô hình nghiên cứu. Chương 3 trình bày phương pháp nghiên cứu để kiểm định thang đo và mô hình lý thuyết cùng các giả thuyết đề ra. Chương 4 trình bày thống kê mô tả của mẫu thu thập được và các kết quả phân tích định lượng trong việc kiểm định thang đo, kiểm định mô hình lý thuyết cùng các giả thuyết đề ra.

Cuối cùng, chương 5 tóm tắt lại những kết quả chính và đóng góp của đề tài nghiên cứu, đưa ra một số kiến nghị cũng như một số hạn chế của nghiên cứu để định hướng cho những nghiên cứu tiếp theo. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương này trình bày một số khái niệm, đề ra cơ sở lý thuyết của các khái niệm nghiên cứu liên quan đến đề tài nghiên cứu. Từ đó, đề xuất mô hình nghiên cứu và các giả thuyết cho mô hình nghiên cứu. Sự đổi mới – Innovation Thuật ngữ này bắt nguồn từ tiếng Latin: ‘innovare’, nghĩa là “làm cái gì đó mới”.

Về bản chất, đổi mới là một quá trình chuyển cơ hội thành những ý tưởng mới và đưa những ý tưởng này trở thành hoạt động thực tiễn, sử dụng rộng rãi (Tidd et al. Cũng theo Tidd et al. (1997), đổi mới là quá trình cốt lõi liên quan đến việc làm mới những gì tổ chức cung cấp, tối ưu hóa cách tạo và phân phối đầu ra của tổ chức. Đổi mới có thể được phân loại theo bản chất của sự thay đổi mà nó mang lại, tức là theo mức độ mới lạ.

Theo Rothwell và Gardiner (1985), sự đổi mới không nhất thiết chỉ bao gồm việc thương mại hóa của một tiến bộ lớn trong công nghệ (gọi là đổi mới cơ bản – radical innovation) mà nó bao gồm việc tận dụng ngay cả những thay đổi có quy mô nhỏ trong “bí quyết” công nghệ (gọi là cải tiến hay đổi mới gia tăng – improvement hoặc incremental innovation). Burgelman et al. (1996) cũng chỉ ra những loại hình đổi mới cụ thể là đổi mới gia tăng – incremental innovation, đổi mới cơ bản – radical innovation và đổi mới kiến trúc – architectural innovation. Theo quan điểm của họ, đổi mới gia tăng bao gồm sự thích nghi, sàng lọc, nâng cao các sản phẩm, dịch vụ hiện tại và/hoặc hệ thống sản xuất, phân phối hiện tại (ví dụ: thế hệ kế tiếp của bộ vi xử lý).

Đổi mới cơ bản bao gồm toàn bộ danh mục sản phẩm, dịch vụ mới và/hoặc hệ thống sản xuất, phân phối mới (chẳng hạn: truyền thông không dây). Đổi mới kiến trúc liên quan đến việc cấu hình lại hệ thống thành phần cấu thành sản phẩm (ví dụ: thu nhỏ các bộ phận chính trong máy radio). 6 Damanpour (1990) chia sự đổi mới thành ba loại, cụ thể là đổi mới công nghệ - technology innovation, đổi mới hành chính – administrative innovation, và đổi mới bổ sung – ancillary innovation. Đổi mới là quá trình doanh nghiệp phát triển các sản phẩm, dịch vụ, quy trình hay hệ thống quản lý mới để đáp ứng các yêu cầu do sự thay đổi của môi trường kinh doanh, công nghệ hay mô hình cạnh tranh.

Đổi mới gồm nhiều công đoạn, từ nghiên cứu lập kế hoạch đến tìm kiếm các giải pháp kỹ thuật và thương mại hóa. Nói cách khác, chỉ khi doanh nghiệp biến một phát minh thành sản phẩm, dịch vụ mới, bán được ra thị trường (đáp ứng nhu cầu khách hàng) và mang lại lợi nhuận thì mới được coi là đổi mới. Trong khi đó, không phải phát minh nào cũng dẫn tới thỏa mãn nhu cầu khách hàng. Khả năng phát minh thường thể hiện qua số lượng sáng chế được đăng ký bản quyền.

Theo Bessant et al. (2005), Đổi mới có thể được mô tả như là một vấn đề của tìm kiếm ý tưởng, lựa chọn ý tưởng, thực hiện ý tưởng đã được lựa chọn và nắm bắt chúng. Quá trình tìm kiếm ý tưởng tập trung vào việc làm thế nào để tìm ra cơ hội đổi mới, trong khi lựa chọn ý tưởng đề cập đến việc làm cái gì và tại sao; Cuối cùng, thực hiện ý tưởng đã được lựa chọn và nắm bắt chúng là làm thế nào để nó xảy ra và làm thế nào để có được những lợi ích từ việc đổi mới đó. Trạng thái ổn định - Steady state và Không liên tục – Discontinuous Có hai kiểu mẫu trong cách đổi mới tổ chức: Trạng thái ổn định và không liên tục.

Greenwood và Hinings (1993) đưa ra các yếu tố để phân biệt hai kiểu mẫu như trong Bảng 2.1: Phân biệt giữa hai kiểu mẫu Trạng thái ổn định và Không liên tục Trạng thái ổn định Không liên tục Không có quy luật rõ ràng – những quy Cách thức nhận thức dựa trên các quy luật này xuất hiện theo thời gian. luật rõ ràng và được chấp thuận. Cố gắng chấp nhận sự không rõ ràng Đường lối chiến lược độc lập, khẩn cấp, Đường lối chiến lược phụ thuộc tìm kiếm và học hỏi Môi trường lựa chọn rõ ràng Môi trường lựa chọn mơ hồ, khẩn cấp Lựa chọn và định vị nguồn lực liên kết Chấp nhận rủi ro, đánh cược nhiều lần với những quỹ đạo rõ ràng và tiêu chuẩn cùng lúc và chấp nhận lỗi. Vận hành các công việc thường quy một Vận hành một cách mơ hồ, không rõ cách tinh chế và ổn định.

Những mối liên kết chặt chẽ và dòng chảy kiến thức được truyền đi theo nhiều Liên kết yếu và định hướng xa trọng tâm kênh rõ ràng. Đổi mới không liên tục – Discontinuous innovation Đổi mới không liên tục là một khái niệm mơ hồ, do có nhiều thuật ngữ được sử dụng có thể thay thế nhau để chỉ cho cùng khái niệm này, chẳng hạn như đổi mới cơ bản, đổi mới đột phá hay đổi mới mang tính phá vỡ. Tuy nhiên, phần lớn các tác giả hướng đến cùng khái niệm, cụ thể đó là những đổi mới có thể tạo ra những đường hướng kinh doanh mới cho bản thân doanh nghiệp, cho thị trường (O’Connor và Veryzer, 2001) và có thể không rõ ràng đối với khách hàng (Abernathy và Utterback, 1988). Một số đổi mới không liên tục có thể tập trung nhiều hơn vào phân khúc thị trường mang lại hiệu quả, giá trị cao và nhằm mục đích thâm nhập vào thị trường chủ đạo.

Những đổi mới này thường được định 8 hướng bởi những đột phá về mặt công nghệ hoặc ý tưởng, đòi hỏi những thay đổi hành vi đáng kể với thị trường hiện tại, do đó phải mất một thời gian dài để phát triển (McDermott và O’Connor, 2002). Một số đổi mới không liên tục khác có thể tập trung nhiều hơn vào thị trường cấp thấp và mang lại hiệu quả thấp. Kiểu đổi mới này đòi hỏi công nghệ đủ tốt với các tính năng đặc biệt chưa được đánh giá bởi một thị trường đã được thành lập. Theo Kassicieh và Walsh (2002), chúng yêu cầu công tác phát triển thị trường hoặc tiếp thị ban đầu.

Khám phá và Khai thác Khám phá và khai thác là hai phương pháp tiếp cận cơ bản trong học tập tổ chức. Khám phá là những hành vi của doanh nghiệp mô tả bằng việc tìm kiếm, khám phá, thử nghiệm, chấp nhận rủi ro và sự đổi mới. Trong khi đó, khai thác lại mô tả hành vi sàng lọc, thực thi, đánh giá tính hiệu quả, sản xuất và lựa chọn (Cheng và Van de Ven, 1996; March, 1991). Không dễ dàng để định nghĩa chính xác hai loại hình này, nhưng chỉ có một sự khác biệt chính mà chúng ta cần tập trung.

Sự khám phá là một quá trình lâu dài, đi kèm với rủi ro, và kết quả thường không chắc chắn. Trong khi sự khai thác thì ngược lại là quá trình ngắn hạn, mang tính tức thì và đi kèm với lợi ích (March, 1991). Ngược lại, sự khám phá nhằm đáp ứng cũng như thúc đẩy xu hướng của môi trường còn tìm ẩn bằng cách tạo ra công nghệ tiên tiến và thị trường mới (Nonaka, 1994). Đổi mới theo kiểu khám phá và Đổi mới theo kiểu khai thác Đổi mới theo kiểu khám phá là đổi mới cơ bản và được thiết kế để đáp ứng nhu cầu của khách hàng và thị trường mới nổi (Benner và Tushman, 2003; Danneels, 2002).

Doanh 9 nghiệp cung cấp thiết kế mới, tạo thị trường mới và phát triển các kênh phân phối mới (Abernathy và Clark, 1985). Đổi mới theo kiểu khám phá đòi hỏi phải có kiến thức mới hoặc khởi đầu từ kiến thức hiện tại (Benner và Tushman, 2002; Levinthal và March, 1993; McGrath, 2001). Ngược lại, đổi mới theo kiểu khai thác là đổi mới gia tăng và được thiết kế để đáp ứng nhu cầu của khách hàng hoặc thị trường hiện tại (Benner và Tushman, 2003; Danneels, 2002). Doanh nghiệp làm tăng kiến thức và kỹ năng hiện tại, cải thiện thiết kế, mở rộng sản phẩm và dịch vụ hiện có, đồng thời nâng cao hiệu quả của kênh phân phối hiện tại (Abernathy và Clark, 1985).

Do đó, đổi mới theo kiểu khai thác được xây dựng dựa trên kiến thức hiện tại và củng cố kỹ năng, quy trình và cấu trúc hiện có (Abernathy và Clark, 1985; Benner và Tushman, 2002; Levinthal và March, 1993; Lewin et al. Tìm kiếm ý tưởng Giai đoạn tìm kiếm ý tưởng thuộc vùng phía trước mờ nhạt trong quá trình phát triển sản phẩm mới. Vùng phía trước mờ nhạc là khái niệm được khởi xướng đầu tiên bởi Smith và Reinertsen (1991), đây là giai đoạn đầu tiên của quá trình phát triển sản phẩm mới, biểu thị tất cả các thời gian và hoạt động dành cho một ý tưởng trước khi chính thức thảo luận về ý tưởng đó, đồng thời nhấn mạnh quá trình trước quá trình đổi mới của tổ chức (Cohen and Levinthal, 1990). Theo Crawford và Di Benedetto (2005), vùng phía trước mờ nhạt chia làm hai giai đoạn, cụ thể là giai đoạn tìm kiếm ý tưởng bao gồm các hoạt động liên quan đến hình thành ý tưởng, quản trị ý tưởng và định vị các cơ hội; trong khi đó, giai đoạn lựa chọn ý tưởng thì bao gồm lựa chọn ý tưởng và phát triển khái niệm.

10 TÌM KIẾM LỰA CHỌN THỰC HIỆN - Hình thành ý tưởng - Lựa chọn ý tưởng - Quản trị ý tưởng - Phát triển khái niệm - Định vị cơ hội Vùng phía trước mờ nhạt Phát triển sản phẩm mới Hình 2.1: Giai đoạn tìm kiếm ý tưởng của quá trình đổi mới “Nguồn: Aloini, D.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận Văn Thạc Sĩ: Mối Quan Hệ Giữa Tìm Kiếm Ý Tưởng Và Hiệu Quả Đổi Mới Doanh Nghiệp Tại TP.HCM là một nghiên cứu chuyên sâu về cách các doanh nghiệp tại TP.HCM tìm kiếm ý tưởng và tác động của quá trình này đến hiệu quả đổi mới. Tài liệu này cung cấp cái nhìn chi tiết về các yếu tố ảnh hưởng đến sự sáng tạo trong doanh nghiệp, từ đó giúp các nhà quản lý hiểu rõ hơn về cách thúc đẩy đổi mới để nâng cao năng lực cạnh tranh. Đặc biệt, nghiên cứu này còn đưa ra các khuyến nghị thực tiễn để doanh nghiệp áp dụng trong quá trình tìm kiếm và triển khai ý tưởng mới.

Nếu bạn quan tâm đến việc đo lường hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh xây dựng chỉ số KPIs cho bộ phận sản xuất công ty cổ phần dược phẩm trung ương 25 uphace. Tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách xây dựng và áp dụng các chỉ số KPIs để tối ưu hóa hiệu suất trong sản xuất và quản lý.