CHƯƠNG 1: TÔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE HOAT ĐỘNG BAN CHEO SAN PHAM CHO KHACH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGAN HÀNG THUONG MAI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Hiện tại hoạt động bán chéo tại các ngân hàng thương mại đang ngày càng được quan tâm hơn. Tuy nhiên các dé tài nghiên cứu về nội dung này chưa nhiều. Các nội dung nghiên cứu có liên quan: - Bài báo “Hiệu quả bán chéo ngành ngân hàng Việt Nam 2019”: Trang Brandsvietnam.com Bài báo đo lường hiệu quả truyền thông thương hiệu ngân hàng thông qua khảo sát online trên 1.000 người tiêu dùng Việt Nam.
Lĩnh vực có hoạt động bán chéo sản phẩm, dịch vụ được thể hiển rõ ràng nhất chính là ngành Ngân hàng, nơi mà mỗi thương hiệu đều sở hữu khối lượng dit liệu khách hàng không 16, thu được từ việc bán từng sản phẩm, dịch vụ riêng lẻ. Báo cáo Banking Brand Beat Score 2019 (BBBS 2019) chỉ ra một số ngân hàng đã và đang tập trung phát triển hoạt động bán chéo sản phẩm, dịch vụ. Tuy nhiên, hoạt động mới chỉ dừng lại mức xây dựng, phát triển, dần hoàn thiện và không phải tất cả thương hiệu đều khai thác hiệu quả nguồn thông tin không lồ họ sở hữu. Trung bình, ví tiền của người tiêu dùng Việt Nam cho các sản phâm ngành ngân hàng được chia cho 3 thương hiệu khác nhau.
Báo cáo cũng chỉ ra có đến 93% người được hởi nói rằng ho dang sử dụng sử dụng sản phẩm, dịch vụ của 2 ngân hàng trở lên, trong đó 35% người tiêu dùng đang sử dụng nhiều hơn hoặc bằng 5 ngân hàng. VietinBank là ngân hàng có mức độ pha loãng thương hiệu cao nhất ngành, đa phần những người đang sử dụng VietinBank thường xuyên cũng sử dụng thêm một số sản phẩm, dịch của thương hiệu khác. Trong đó, có đến 34% khách hàng của Vietinbank cũng sử dụng sản phẩm của Vietcombank - Bài báo “Bán chéo ban sao cho khéo”: Trang Vietinbank.vn Bài báo đã nói về kinh nghiệm trong việc bán chéo sản phẩm với các công ty liên kết thông qua các chương trình thi đua: Ngôi sao Bancasurance, VietinAviva Banca star,.Đề đạt được kết quả tốt thì ngoài kến thức về sản phẩm chuyên viên bán hàng cần bổ sung kỹ năng thuyết phục khách hàng, luyện tập kỹ năng tu van va đặc biệt là việc chuẩn bị tốt các bước Trước, trong và sau bán hàng. - Bài báo “7 bước quy trình bán hang”: Trang marketingia.vn Bài báo chỉ ra quy trình bán hàng chung cho các doanh nghiệp gồm 7 bước Bước 1: Chuẩn bị Bước 2: Tìm kiếm khách hàng tiềm năng Bước 3: Tiếp cận khách hàng Bước 4: Giới thiệu, trình bày về sản phẩm, dịch vụ Bước 5: Báo giá và thuyết phục khách hàng Bước 6: Thống nhất, chốt đơn hàng/hợp đồng bán Bước 7: Chăm sóc Khách hàng sau bán Theo 7 bước của bải báo thì có thể nhóm các bước 1,2&3 là bước Chuẩn bị trước khi bán, Bước 4,5&6 là thực hiện bán và bước 7 là chăm sóc sau ban.
- Bài báo “Bán chéo sản phẩm trong hoạt động ngân hàng”: Tạp chí ngân hang số 2-3/2011 — PGS, TS Nguyễn Thi Nhung Bài viết đã chỉ ra khái niệm hiểu như thế nào là bán chéo sản phẩm, điểm khác biệt của bán chéo sản phẩm so với việc bán thật nhiều sản phẩm. Các sản phẩm bán chéo là các sản phẩm bổ sung, sản phẩm phụ, sản phẩm bán chéo có thé là những sản phẩm độc lập nhưng chúng lại có liên quan với nhau. Trong bài viết tác giả cũng đã đưa ra một số cách thức triển khai bán chéo sản phẩm ngân hàng: Xây dựng những bộ sản phâm theo gói, bán chéo thông qua các hoạt động liên kết. Các hoạt động liên kết ở đây là liên kết giữa ngân hang và các công ty bảo hiểm dé thực hiện bán chéo.
- Bài báo “The Benefits and Strategies of Cross Selling in Banking Cross selling in banking”.com Bai báo chỉ ra lợi ich va chiến lược của bán chéo trong Ngân hàng. Bán chéo trong Ngân hàng giúp cải thiện doanh thu và lòng trung thành của khách hàng. Bài báo cũng chỉ ra cách các ngân hàng có thể tận dụng từ nguồn khách hàng hiện hữu để gia tăng sản phẩm trên chính các khách hàng đó. - Luan án tiến sĩ kinh tế với dé tài “Phát triển dịch vụ ngân hang bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam” của tác giả Tô Khánh Toản.
Trong luận án tác giả đã hệ thống hóa và làm rõ hơn cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ Ngân hàng bán lẻ, bao gồm: Khái niệm, đặc điểm, nội dung, vai trò và nhân tố ảnh hưởng đến phát triển dịch vụ Ngân hàng bán lẻ. Tác giả đã tìm hiểu kinh nghiệm về phát triển dịch vụ Ngân hàng bán lẻ ở một số NHTM trên thế giới, rút ra những bài học kinh nghiệm trong phát triển dịch vụ Ngân hàng bán lẻ ở Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam. Với việc phân tích, đánh giá đúng thực trạng phát triển dịch vụ Ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam tác giả đã đưa ra một số đề xuất về phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm day mạnh phát triển dịch vu Ngân hàng bán lẻ. Các giải pháp chủ yếu là: + Phát triển nguồn nhân lực: Hoàn thiện mô hình tổ chức Ngân hàng theo hướng hiện đại pha hợp với thông lệ và chuân mực quốc tế.
+ Phát triển công nghệ thông tin: Phát triển hệ thống ngân hàng cốt lõi (Core Banking) và hệ thống các sản phẩm ứng dụng nhằm phát triển sản phẩm dịch vụ đáp ứng tốt nhất nhu cầu khách hàng. + Quản lý rủi ro: Triển khai áp dụng hệ thống quản lý rủi ro cho tất cả các hoạt động tốt nhất theo thông lệ về quản trị điều hành hoạt động kinh doanh, rà soát ban hành các chính sách và quy trình nghiệp vụ theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008; + Phát triển sản phẩm dịch vụ: Hoàn thiện và làm mới các sản phẩm hiện có, các sản phẩm dich vụ truyền thống phù hợp với tâm lý và nhu cầu khách hàng. Bên cạnh đó cần phát triển các sản phẩm dịch vụ tiện ích mới, với các tính năng công nghệ hiện đại, đặc biệt quan tâm đến phát triển gói sản phẩm dịch vụ, bán chéo sản phẩm, gia tăng lợi ích và tiện ích trên một khách hàng. Cơ sở lý luận về hoạt động bán chéo sản phẩm cho khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thương mại 1.
Khái niệm, vai trò của bán chéo sản phẩm Bán hàng cá nhân là một quá trình (mang tính cá nhân) trong đó người bán tìm hiểu, khám phá, gợi mở và đáp ứng những nhu cầu hay ước muốn của người mua đề đáp ứng quyền lợi của cả hai bên. Khai niệm trên rõ ràng thé hiện rằng cả hai bên người mua và người bán đều có lợi trong giao dich ấy. Trong lực lượng bán hàng được đặt rất nhiều chức danh như: Người bán hàng, đại diện bán hàng, nhân viên kỹ thuật phụ trách bán hàng, đại diện nhà sản xuất, giám đốc phụ trách khách hàng, giám đốc khu vực và biết bao nhiêu chức danh đa dạng khác nữa. Tắt cả những người nêu trên đều có điểm chung là tiếp xúc trực tiếp với khách hàng và có trách nhiệm trực tiếp về việc bán sản phẩm hay dịch vụ của họ hoặc Công ty họ.
Định nghĩa về bán hàng cá nhân này chủ đích nói rằng việc bán hàng là cả một chuỗi hoạt động và các quan hệ. Rõ ràng những lĩnh vực hoạt động của nhân viên của các tổ chức kinh doanh dịch vụ như kế toán, ngân hàng và quảng cáo cũng giống hệt như công việc của một đại diện bán hàng trong khu vực của mình. Vì vậy, chức năng và hoạt động của việc bán hàng cá nhân không chỉ gói gọn trong lực lượng bán hàng. Tuy nhiên, chương này tập trung chủ yếu vào việc quản lý rất nhiều nhân viên bán hàng hiện nay.
Hai mục tiêu của quản trị bán hàng là con người và lợi nhuận. Hau hết các công ty thành công đều khi có những loạt mục tiêu được xác định rã ràng với những chiến lược đề đạt được những mục tiêu ấy. Cách tốt nhất là những người điều hành công ty nên xây dựng những mục tiêu kinh doanh sau khi đánh giá cân thận những cơ hội kinh doanh cũng như những nguồn lực của công ty. Thông thường những mục tiêu này đựợc cụ thé hóa thành những chỉ tiêu tăng trưởng về lợi nhuận và doanh số, sau đó được chỉ tiết hóa theo hệ thống tổ chức của công ty đến từng định mức cho từng vùng, địa phương và khu vực nhỏ hơn.
Điểm cuối cùng của day chuyền ấy chính là những người đại diện bán hàng. Nếu người đại diện bán hàng không nỗ lực và chân thành bán sản phâm của công ty thì đối với hầu hết doanh nghiệp sẽ rất khó khăn nếu không muốn nói hầu như không thể đạt được những mục tiêu đã đề ra. Người có trách nhiệm cuối cùng về việc thực thi nhiệm vụ của người đại diện bán hàng là người quản lý công việc bán hàng theo lĩnh vực. Vậy những trưởng phòng quan lý bán hàng mục tiêu của họ là gi? Mặc dù họ có thé nêu ra khái quát rằng những mục tiêu của trưởng phòng quan lý bán hàng cũng chính là mục tiêu của công ty họ.
Nhưng cụ thể hơn là những mục tiêu ấy phải được xây dựng có căn cứ thực hiện hơn những mục tiêu chung của công ty. Mặc dù những mục tiêu thực hiện có thé được diễn tả bằng nhiều cách, tùy ngành, tùy thuộc vào từng công ty, nhưng nói chung chúng có thé chia thành hai loại là mục tiêu đó là hướng vào con người và mục tiêu hướng vào lợi nhuận. Từ lâu, người ta nhận định rằng nội dung công việc của đại diện bán hàng rằng buộc họ vào với công ty tuyên dụng họ. Có nghĩa là khi họ còn làm cho công ty ấy, thì họ phải dành trọn thời gian của họ cho khách hàng của Công ty họ bao gồm cả khách hàng hiện hữu và khách hàng tiềm năng.
Trong thực tế, nhiều đại diện bán hàng, những người đại điện bán lẻ và một số trong lực lượng bán hàng ngoài công ty tự do đi lại giao dịch giữa công ty của mình và địa điểm kinh doanh của khách hàng. Chang may xa lạ khi một đại diện bán hàng sử dụng nhiều thời gian của mình với khách hàng hơn là tại văn phòng công ty. * Bán chéo sản phẩm Bán chéo sản phẩm là hoạt động Marketing bán hàng nhằm giới thiệu các sản phẩm hoặc các dich vụ bé sung cho các khách hang đã, đang và sẽ mua sản phẩm của doanh nghiệp.