CHƯƠNG 1 NHUNG VAN DE LY LUAN CHUNG VE CONG TAC TRA LUONG TRONG DOANH NGHIEP 1. KHAI NIEM, BAN CHAT VA VAI TRO CUA TIEN LƯƠNG 1. Tiền lương và một số khái niệm n quan 1. Tiền lương Tiền lương được hiểu là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao.
động tương ứng với số lượng và chất lượng lao động mà họ đã tiêu hao trong quá trình tao ra của cải cho xã hội. “Theo Tổ chức lao động thế giới (ILO) thì: “7iên lương là sự trả công hoặc thu nhập bắt luận tên gọi hay cách tính như thể nào mà có thê biểu hiện bằng tiền và được. ấn định giữa người sử dụng lao động và người lao động hoặc bằng pháp luật, do người sử dụng lao động trả cho người lao động theo một hợp đồng lao động được viết ra bằng miệng, cho một công việc đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện, hoặc cho những dich vụ đã làm hay sẽ phải lam”.24] Ở nước ta hiện nay, tiền lương được xem là giá cả sức lao động, được hình thành qua thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động phủ hợp với quan hệ cung cầu sức lao động trong nền kinh tế thị trường. Tiền lương của người lao động do hai 'bên thoả thuận trong hợp đồng lao động và được trả theo năng suất lao động, chất lượng.
và hiệu quả công tác. Điều 55 Bộ luật lao động của nước ta quy định: “Tiền lương của người lao động. do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng lao động và được trả theo năng suất lao động. chất lượng và hiệu quả công việc.
Mức lương của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định”. Một số khái niệm liên quan đến tiền lương a. Tiên lương tối thiểu Theo tổ chức lao động thế giới (ILO) thi: “Tién lương tối thiểu là mức trả công lao động thấp nhất cho người lao động làm công việc giản đơn nhất dé ho đảm bảo mức sống tối thiêu với tư cách là người chủ gia đình và phù hợp với điều kiện kinh tế thị trường ".24] Điều 56 Bộ luật lao động của nước ta quy định: “Mức lương tối thiểu được ấn định theo giá sinh hoạt, bảo đảm cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường bù đắp sức lao động giản đơn và một phần tích lầy, tải sản xuất sức lao động mở rộng và được dùng làm căn cứ để tính mức lương cho các loại lao động khác nhau. Chính phủ quyết định và công bố mức lương tối thiểu chung, mức lương tối thiểu vùng, mức lương tối thiểu ngành cho từng thời kỳ sau khi lấy ý kiến Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam và đại diện của người sử dụng lao động.
Khi chỉ số giá sinh hoạt tăng lên làm cho tiền lương thực tế của người lao động bị giảm sút, thì chính phú điều chỉnh mức lương tối thiểu để bảo đảm tiền lương thực tế”. Tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế: - Tiền lương danh nghĩa: là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho. người lao động. Tiền lương này phụ thuộc vào năng suất lao động, hiệu quả làm việc của người lao động, trình độ, kinh nghiệm.
của người lao động. ~ Tiền lương thực tế: là số lượng hàng hóa tiêu dùng và các loại dịch vụ cần thiết mà người lao động có thê có được từ tiền lương danh nghĩa. ~ Mối liên hệ giữa tiền lương thực tế và tiền lương danh nghĩa: Tuda/Tge : chỉ số tiền lương thực tế. lụa; : chỉ số tiền lương danh nghĩa.
lạ : chỉ số giá cả. Từ công thức trên ta thấy, tiền lương thực tế và tiền lương danh nghĩa tỷ lệ thuận với nhau. Tuy nhiên khi tiền lương danh nghĩa tăng cũng chưa chắc là tiền lương. thực tế sẽ tăng bởi chỉ số tiền lương thực tế còn phụ thuộc vào chỉ số giá cả, nếu tốc độ tăng của chỉ số giá cả lớn hơn tốc độ tăng của tiền lương danh nghĩa thì chỉ số tiền lương thực tế giảm tức là tiền lương thực tế giảm.
Chế độ tiền lương: Trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN tại Việt Nam hiện nay, việc trả lương cho người lao động trong các doanh nghiệp phải tuân thủ một số quy định nhất định được gọi chung là "Chế độ tiền lương”. Cụ thể hiện nay trong các doanh nghiệp áp dụng các chế độ tiền lương như sau: ~ Chế độ tiền lương theo cấp bậc Là toàn bộ những quy định của Nhà nước mà các xí nghiệp, doanh nghiệp áp dụng và vận dụng để trả lương cho người lao động trực tiếp và trả lương theo kết quả lao động thể hiện qua số lượng và chất lượng. dung gồm có: thang lương, bội số của thang lương, mức lương, tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật. + Thang lương: là bảng xác định quan hệ tỷ lệ về tiền lương giữa những người làm cùng một ngành nghề hoặc cùng làm một nhóm ngành nghề giống nhau.
Thang lương gồm: bậc lương, hệ số lương 'Bậc lương: là bậc phân biệt trình độ lành nghề người lao động và được xếp từ thấp đến cao. 'Hệ số lương: là hệ số phản ánh lao động ở bậc nào đó được trả lương cao hơn lao. động được trà mức tiền lương tối thiểu bao nhiêu lần. Có hai hệ số tăng lương là: hệ số tăng tuyệt đối và hệ số tăng tương đối của hệ số lương.
+ Bội số của thang lương: là sự so sánh giữa bậc cao nhất và bậc thấp nhất trong một thang lương, hay nói cách khác mức lương công nhân bậc cao nhất cao gấp máy lần bậc thấp nhát (bac 1). + Mức lương: là số tiền dùng đề trả công cho người lao động trong một đơn vị thời gian (giờ, ngày, tháng) phủ hợp với các bậc trong thang lương. + Tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật: là văn bản quy định của Nhà nước về mức độ phức tạp công việc và yêu cầu về trình độ lành nghề của người lao động ở một bậc nào. đó phải có sự hiểu biết nhất định cả về lý thuyết và thực hành.
Tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật có ý nghĩa quan trọng trong tô chức lao động và trả lương. Trên cơ sở tiêu chuẩn kỷ thuật, người lao động có thể được bố trí làm. việc theo đúng yêu cầu công việc, phủ hợp với khả năng lao động. Qua đó có thể trả lương theo đúng chất lượng của người lao động khi làm việc trong cùng một nghề hay giữa các nghề khác nhau.
Thực hiện chế độ iền lương theo cắp bậc có ý nghĩa: + Tạo khả năng điều chỉnh tiền lương giữa các ngành nghề một cách hợp lý, giảm. bố trí và sử dụng lao động thích hợp với khả năng về sức khỏe và trình độ lành nghề, tạo cơ sở xây dựng kế hoạch nguồn nhân lực, nhất là kế hoạch tuyển chọn, đảo tạo nâng cao trình độ cho người lao động. + Có tác dụng khuyến khích và thu hút người lao động làm việc những ngành nghề có điều kiện lao động nặng nhọc, khó khăn, độc hại. Chế độ tiền lương cắp bậc không cố định, tùy theo điều kiện trong từng thời kỳ mà có sửa đôi, cải tiến nhằm phát huy tốt vai trò và tác dụng của nó.
~ Chế độ tiền lương theo chức vụ Là toàn bộ những quy định của Nhà nước mà các tổ chức quản lý Nhà nước, các tổ chức kinh tế xã hội và các doanh nghiệp áp dụng dé trả lương cho lao động quản lý, tùy theo chức danh viên chức và thâm niên nghề nghiệp. Trong một tổ chức người lao động quản lý không phải là người trực tiếp tạo ra sản phẩm nhưng họ lại là người đóng vai trò quan trọng trong việc lập ra các kế hoạch, tổ chức, điều hành, kiểm soát và điều chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh. Nếu các kế hoạch họ đặt ra không hợp lý, công tác tổ chức và bố trí lao động. không khoa học thì dẫn tới năng suất lao động của người công nhân sản xuất trực tiếp bị giảm sút, gây ảnh hưởng tới hoạt động của doanh nghiệp.
Hơn nữa người lao động quản lý lại làm việc bằng trí óc nhiều hơn công nhân sản xuất trực tiếp, họ làm việc kết hợp cả yếu tố khoa học và nghệ thuật nên rất khó có thể xác định được tiền lương chính xác cho người lao động quản lý. Vì vậy mà chế độ tiền lương chức vụ đã góp phần tạo nên sự công bằng trong vấn để trả lương cho lao động quản lý. ~ Chế độ tiền lương chức vụ được xây dựng theo trình tự sau: + Bước 1, xây dựng chức danh của lao động quản lý. + Bước 2, đánh giá sự phức tạp của lao động trong từng chức danh.
+ Bước 3, xác định bội số hoặc sốsố bậc trong một bảng lương hoặc ngạch lương. + Bước 4, xác định mức lương bậc một và mức lương khác trong bảng lương. ~ Thực hiện chế iền lương theo chức vụ có ý nghĩa: trong một tổ chức người lao động quản lý không phải là người trực tiếp tạo ra sản phẩm nhưng họ lại là người đóng vai trò quan trong trong vi ra các kế hoạch, tổ chức, điều hành, kiểm soát và điều chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh. Nếu các kế hoạch họ.
đặt ra không hợp lý, công tác tổ chức và bố trí lao động không khoa học thì dẫn tới năng suất lao động của người công nhân sản xuất trực tiếp bị giảm sút, gây ảnh hưởng tới hoạt động của doanh nghiệp. Hơn nữa người lao động quản lý lại làm việc bằng trí óc nhiều hơn công nhân sản xuất trực tiếp, họ làm việc kết hợp cả yếu tố khoa học và nghệ thuật nên rất khó có thể xác định được tiền lương chính xác cho người lao động quản lý. Vì vậy mà chế độ tiền lương chức vụ đã góp phần tạo nên sự công bằng trong vấn đề trả lương cho lao động quản lý. Bản chất của tiền lương trong nền kinh tế thị trường.
Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tiền lương là một phần thu nhập. quốc dân biêu hiện bằng tiền mà người lao động nhận được đẻ bù đắp cho lao động. đã bỏ ra tuỳ theo số lượng và chất lượng của người lao động đó. Như vậy tiền lương.
là một phần giá trị mới sáng tạo ra được phân phối cho người lao động để tái sản xuất sức lao động của mình. Vì người lao động trong quá trình tham gia sản xuất phải hao phí một lượng sức lao động nhất định và sau đó phải được bù đắp bằng việc sử dụng tư liệu tiêu dùng.