CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG CỤ TẠO ĐỘNG LỰC CHO GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Động lực làm việc của giảng viên trường Đại học 1. Giảng viên trường đại học 1. Khái niệm giảng viên trường đại học Theo đại từ điển Tiếng Việt của trung tâm ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam thì: “Giảng viên là người giảng dạy ở đại học hay lớp huấn luyện cán bộ” “Nhà giáo giảng dạy tại các cơ sở giáo dục đại học hoặc cao đẳng nghề gọi là giảng viên”.
Tại điều 54 số 08/2012/QH 13 Luật giáo dục Đại học của Quốc hội: “Giảng viên trong cơ sở giáo dục đại học là người có nhân thân rõ ràng; có phẩm chất, đạo đức tốt; có sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp; đạt trình độ về chuyên môn, nghiệp vụ quy định tại điểm e khoản 1 Điều 77 của Luật giáo dục”. Chức danh của giảng viên bao gồm trợ giảng, giảng viên, giảng viên chính, phó giáo sư, giáo sư. Trình độ chuẩn của chức danh giảng viên giảng dạy trình độ đại học là thạc sĩ trở lên. Trường hợp đặc biệt ở một số ngành chuyên môn đặc thù do Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo quy định.
Hiệu trưởng cơ sở giáo dục đại học ưu tiên tuyển dụng người có trình độ từ thạc sĩ trở lên làm giảng viên. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm, quy định việc bồi dưỡng, sử dụng giảng viên. Đối với những người lãnh đạo - quản lý trong các tổ chức giáo dục, đào tạo phải làm thế nào để gắn kết các thành viên trong đội ngũ giảng viên lại tạo thành một đội ngũ cùng chung mục đích, lý tưởng mà trong đó mỗi thành viên là một nhân tố quan trọng với đầy đủ trình độ, năng lực và phẩm chất đạo đức với những tri thức mới, tập hợp thành một khối đoàn kết thống nhất tạo ra một đội ngũ nhà giáo lớn mạnh, rộng khắp đáp ứng được nhiệm vụ của giáo dục trong thời đại ngày 5 nay là một yêu cầu hết sức cần thiết. Nhiệm vụ và quyền của giảng viên - Giảng dạy theo mục tiêu, chương trình đào tạo và thực hiện đầy đủ, có chất lượng chương trình đào tạo.
- Nghiên cứu, phát triển ứng dụng khoa học và chuyển giao công nghệ, bảo đảm chất lượng đào tạo. - Định kỳ học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ và phương pháp giảng dạy. - Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của giảng viên. - Tôn trọng nhân cách của người học, đối xử công bằng với người học, bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của người học.
- Tham gia quản lý và giám sát cơ sở giáo dục đại học, tham gia công tác Đảng, đoàn thể và các công tác khác. - Được ký hợp đồng thỉnh giảng và nghiên cứu khoa học với các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở nghiên cứu khoa học theo quy định của pháp luật. - Được bổ nhiệm chức danh của giảng viên, được phong tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân, Nhà giáo ưu tú và được khen thưởng theo quy định của pháp luật. - Các nhiệm vụ và quyền khác theo quy định của pháp luật.
Đặc điểm của đội ngũ giảng viên trường học - Thời gian làm việc: Không giống như các ngành nghề khác, thời gian làm việc của đội ngũ giảng viên được quy định tính theo định mức quy định của Bộ giáo dục và đào tạo quy định với các chức danh và vị trí khác nhau. Thời gian làm việc của đội ngũ giảng viên không phải theo khung giờ cố định 8 tiếng/ngày như những loại hình lao động khác mà quy định theo định mức giờ chuẩn của Bộ giáo dục quy định. Hoạt động lao động của họ không chỉ gồm thời gian lên lớp mà còn gồm thời gian cho các hoạt động khác như NCKH; tham gia các hoạt động phong trào Đoàn thanh niên, các chương trình, sự kiện, hướng dẫn sinh viên NCKH, hướng dẫn thực tập; làm đề thi, chấm thi, viết giáo trình, chuẩn bị bài giảng…Tuy nhiên, thời gian đứng lớp của họ cũng linh hoạt, có thể thay đổi theo từng học kỳ, từng năm học. Chính vì đặc điểm này mà công tác quản lý thời gian làm việc của đội ngũ giảng viên cũng có sự khác 6 biệt so với các công việc khác như kiểm soát giờ làm việc mà sẽ phụ thuộc vào tinh thần tự giác và ý thức nghề nghiệp của người giảng viên.
- Đối tượng lao động của giảng viên là sinh viên: Nếu như đối tượng lao động của người lao động là các công cụ máy móc, trang thiết bị thì đối với giảng viên đối tượng lao động của họ lại chính là sinh viên. Mà sinh viên ở đây không chỉ là sinh viên chính quy mà còn có các học viên ngoài hệ chính quy như Tại chức, Liên thông, văn bằng 2, thạc sỹ…Họ là những người có tri thức, có kỹ năng đánh giá và phân tích. Tác động đến đối tượng đó không phải lúc nào cũng mang lại hiệu quả như nhau, hiệu quả cũng không tỷ lệ thuận với số lần tác động. Do đó, hoạt động lao động của đội ngũ giảng viên vừa phải mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật.
- Kết quả lao động của giảng viên là yếu tố con người: Với sự khác nhau về đối tượng lao động nên sản phẩm lao động của giảng viên cũng hoàn toàn khác biệt. Sản phẩm của lao động sư phạm có tính phi vật chất. Đó là tri thức, nhân cách người học, tạo ra những giá trị của sức lao động cho xã hội. Sức lao động đó là toàn bộ các sức mạnh về thể chất và tinh thần ẩn trong cơ thể con người, trong nhân cách sinh động con người.
Do đó, việc đánh giá chất lượng kết quả lao động của giảng viên là vấn đề phức tạp. Có thể thấy, chất lượng kết quả lao động của giảng viên không chỉ phụ thuộc vào năng lực của người giảng viên mà còn phụ thuộc vào khả năng tiếp thu và vận dụng kiến thức của sinh viên; không chỉ được thể hiện ở lượng kiến thức mà sinh viên lĩnh hội được mà còn được thể hiện ở nhân cách của người học. Động lực làm việc của giảng viên trường đại học 1. Khái niệm động lực Hoạt động của con người là hoạt động có mục đích vì vậy mà các nhà quản lý luôn tìm cách trả lời câu hỏi tại sao người lao động lại làm việc.
Có rất nhiều quan điểm về động lực. Theo Mitchell (1999): “Động lực là một mức độ mà một cá nhân muốn đạt tới và lựa chọn để gắn kết các hành vi của mình [19, tr. Theo kinh tế học lao động thì: "Động lực là nhân tố tác động đến con người, phát lực cho động cơ con người hoạt động". 7 Từ điển kinh tế XHVN cho rằng " Động lực là nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc và trong những điều kiện lao động cho phép tạo ra năng suất hiệu quả cao" Động lực là sự khát khao tự nguyện của người lao động để làm việc một cách có hiệu quả còn năng lực là khả năng làm việc tốt là nhờ đã có được phẩm chất đạo đức cũng như là trình độ chuyên môn cao Theo quan điểm của quản lý nguồn nhân lực: “Động lực lao động là sự khát khao và tự nguyện của con người để nâng cao mọi nỗ lực của mình nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức hay kết quả cụ thể nào đó”.
Động lực cá nhân là kết quả của rất nhiều nguồn lực hoạt động đồng thời trong con người, trong môi trường sống và môi trường làm việc của con người. Do đó hành vi có động lực hay hành vi được thúc đẩy, được khuyến khích trong tổ chức là kết quả tổng hợp của sự kết hợp tác động của nhiều yếu tố như văn hoá tổ chức, phương thức lãnh đạo, cấu trúc tổ chức và các chính sách về nhân lực cũng như sự thực hiện các chính sách đó. Các yếu tố thuộc về cá nhân người lao động cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo động lực làm việc cho chính họ, chẳng hạn nhu cầu, mục đích, các quan niệm về giá trị. Từ những định nghĩa trên có thể thấy động lực lao động là một yếu tố xuất phát từ bên trong người lao động, nó giúp kích thích, thúc đẩy người lao động làm việc nỗ lực, hiệu quả nhằm đạt đến mục đích, mục tiêu nào đó của bản thân họ.
Động lực làm việc của người lao động chịu tác động của hai nhóm nhân tố: một là xuất phát từ bản thân người lao động và hai là xuất phát từ môi trường (môi trường trong tổ chức và môi trường ngoài tổ chức). Nhiệm vụ và mong muốn của người quản lý là tác động đến động lực của người lao động nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức. Do đó, người quản lý phải nắm rõ được tính cách, nhu cầu, các đặc điểm cá nhân của người lao động; các đặc điểm về môi trường trong và ngoài tổ chức để đưa ra các biện pháp tạo động lực phù hợp và hiệu quả đối với người lao động 1. Phân biệt động lực lao động và động cơ lao động Động cơ lao động được hiểu là sự sẵn sàng, quyết tâm thực hiện với nỗ lực ở mức độ cao để đạt được các mục tiêu của tổ chức và nó phụ thuộc vào khả năng đạt được kết quả để thỏa mãn được các nhu cầu cá nhân.
Động cơ lao động là kết quả của sự tương tác giữa các cá nhân và tình huống. 8 Động cơ lao động có tác dụng chi phối thúc đẩy người ta suy nghĩ và hành động. Các cá nhân khác nhau có các động cơ lao động khác nhau, và trong các tình huống khác nhau động cơ nói chung là khác nhau. Mức độ thúc đẩy của động cơ lao động cũng sẽ khác nhau giữa các cá nhân cũng như trong mỗi cá nhân ở các tình huống khác nhau.
Như vậy, động cơ lao động là lý do để cá nhân tham gia vào quá trình lao động, còn động lực lao động là mức độ hưng phấn của cá nhân khi tham gia làm việc. Nói cách khác động cơ lao động trả lời cho câu hỏi: “Vì sao người lao động làm việc?” còn động lực lao động trả lời cho câu hỏi: “Người lao động làm việc như thế nào?”; động cơ giống như những linh kiện cần thiết để một cỗ máy hoạt động còn động lực là nhiên liệu duy trì hoạt động của bộ máy. Động cơ lao động và động lực lao động có mối quan hệ qua lại.