Chương 1: Cơ sở lý luận về chính sách Marketing công nghiệp (B2B), Chương 2: Thực trạng chính sách Marketing cho dịch vụ kiểm định, hiệu chuẩn phương tiện đo, chuẩn đo lường tại thị trường miền Nam của QUATEST 2 Chương 3: Hoàn thiện chính sách Marketing cho dịch vụ kiểm định, hiệu chuẩn phương tiện đo, chuẩn đo lường tại thị trường miền Nam của QUATEST" 2 6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu “Trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài, tác giả đã nghiên cứu và tìm đọc những tài liệu liên quan đến đề tài chính sách marketing ở nhiễu lĩnh vực khác nhau. Tác giả đã tham khảo và trích dẫn từ một số nguồn tài liệu, sách giáo trình [1] Lê Thế Giới, Nguyễn Xuân Lăn và cộng sự (2011), Quản trị Marketing định hướng giá trị, NXB Tài chính, Đà Nẵng. Giáo trình đã nêu khái quát về sự phát triển của tư duy Marketing, Marketing định hướng giá trị, tiến trình hoạch định Marketing định hướng giá trị, cách phân tích môi trường marketing bao gồm môi trường vi mô, vĩ mô.
xây dựng chiến lược Marketing phù hợp. Tác giả kế thừa các quan điểm về quyết định quản trị Marketing dựa trên việc xác định giá trị cho khách hàng, như phân đoạn thị trường, chọn lựa thị trường mục tiêu và định vị tại nội dung. chương 7 nhằm xác định giá trị nảo sẽ được lựa chọn đẻ cung ứng cho thị trường và đảm bảo lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. [2] Philip Kotler (2009), Quan tri Marketing, NXB Lao déng — xã hội, thành phó Hồ Chí Minh.
Giáo trình có giá trị lớn trong việc cung cáp những kiến thức căn bản nhất về marketing từ phân tích chung về môi trường marketing đến phân tích sâu hơn về thị trường người tiêu dùng, thị trường khách hàng tô chức. từ đó tiến hành lựa chọn, định vị sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường mục. tiêu và đề ra các giải pháp marketing theo phối thức 4P, 7P. Trong toàn bộ luận văn, tác giả đã kế thừa những kiến thức mang tính nên tảng quý báu này.
để phân tích, nhìn nhận về chính sách marketing hiện tại và xu hướng thị trường trong giai đoạn tới thật thấu đáo, từ đó đưa ra các giải pháp thật trọng. tâm để giải quyết bài toán đặt ra về dịch vụ của QUATEST 2. [3] Luu Dan Tho - Tén Thit Hong Hai ~ Cao Minh Nhut, Marketing B2b —Marketing Khách hàng tổ chức, NXB Tài Chính. Cuốn sách cung cấp cho đọc giả một cái nhìn tổng quan về Marketing.
công nghiệp đối tượng khách hàng là các tổ chức. Ngoài cơ sở lý thuyết về Marketing công nghiệp, cuốn sách còn phân tích các tinh huỗng về Marketing. công nghiệp, so sánh Marketing công nghiệp và Marketing tiêu dùng, giúp cho đọc giả hiểu rõ các hoạt động Marketing công nghiệp. [4] Hà Nam Khánh Giao (2004), Marketing công nghiệp: Phục vụ khách hang là tổ chức, NXB thông kê, thành phố Hồ Chí Minh Đây là một tác phẩm Marketing chuyên sâu vào lĩnh vực công nghiệp - một hoạt động cơ bản của nền kinh tế quốc dân ở Việt Nam, nhưng việc ứng.
dụng kiến thức Marketing căn bản vào lĩnh vực này trong nền kinh tế thị trường trên thực tế ở nước ta chưa có hiệu quả, đặc biệt là kiến thức chuyên nghiệp về Marketing giữa các doanh nghiệp trong nước và quốc tế, trong bối cảnh cạnh tranh mạnh mẽ vẻ sản phẩm, giá cả, chất lượng, lưu thông phân phối và chiêu thị. Cuốn sách marketing này được viết đề giúp hàn gắn lỗ hỗng đó trong các chương trình giảng dạy của các trường kinh doanh. Mục tiêu đầu tiên của tác giả là đưa ra một cuốn sách có thể hiểu được bởi cả những sinh viên không có. kinh nghiệm trong thị trường công nghiệp.
Sự chú ý của cuốn sách này cũng tương tự như ba lần xuất bản trước là hướng vào quản trị marketing công nghiệp và việc ra quyết định liên quan cụ thể tới marketing công nghiệp. [5] Vũ Thế Dũng, Trương Tôn Hiền Đức (2008), Quản trị Tiếp Thị: thuyết và tình huống, NXB Đại Học Quốc Gia, thành phó Hồ Chí Minh. Cuốn sách bao gồm tuyển tập các bài báo, tạp chí hay, có uy tín, mang. tính điển hình và thời sự của Việt Nam như: Thời báo kinh tế Sài Gon, Sai Gòn tiếp thị, Tuổi trẻ .do đó cuốn sách là một tài liệu tham khảo tông hợp vừa lý thuyết và thực hành, trong đó phẩn thực hành được nhắn mạnh.
Các bài báo được thu thập và phân loại theo các đề mục của lý thuyết môn quản trị tiếp thị và các tình huống nước ngoài được thay thế bằng những tình huống. trong nước dựa trên các bào báo thu thập được. Cuốn sách gồm 8 chương đã cung cấp cho đọc giả những cơ sở lý thuyết về quản trị tiếp thị và các tình huống thực tế của các công ty Việt Nam. CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CHINH SACH MARKETING 1.
TONG QUAN VE MARKETING 1. Định nghĩa Marketing. Khdi niệm sản phẩm/ dịch vụ “Sản phẩm là bắt cứ thứ gì có thể cung ứng ra thị trường để thu hút, mua sắm, sử dụng hoặc tiêu dùng nhằm thỏa mãn một nhu cầu hoặc mong muốn của con người”.289] “Dich vu la bat kỳ hoạt động nào mà một bên có thể cung ứng cho bên kia và cung ứng này là vô hình và không tạo ra bất kỳ sự sở hữu nào về vật chất cụ thể. Việc sản xuất ra dịch vụ có thể hoặc không sử dụng các hỗ trợ của sản phẩm vật chất.
328] Sản phẩm công nghiệp: được phân thành 7 nhóm cơ bản là: thiết bị nặng (heavy equipmen\); thiết bị nhẹ (light equipment); phụ liệu (supplies); các bộ phan (component parts); nguyén ligu thé (raw materials); nguyên liệu đã qua chế biến (processed materials); cac dịch vụ cho doanh nghiệp (business services). Bản chất của dịch vụ. Dịch vụ có các đặc trưng cơ bản khác với sản phẩm hữu hình khác: Tính vô hình: Có nghĩa là dịch vụ không thể nhìn thấy, cảm nhận, nghe hoặc ngửi được trước khi khách hàng mua và sử dụng nó. Chẳng hạn, các hành khách của chuyến bay không có gì ngoi tam vé và hứa rằng họ và hàng hóa của họ sẽ được chuyên chở một cách an toàn đến nơi cần đến như mong muốn và đúng giờ.
Do vậy, để giảm tính không chắc chắn, khách hàng. tìm kiếm những "tín hiệu” cho chất lượng dịch vụ. Khách hàng cảm nhận chất lượng sản phẩm từ nơi chốn, con người, giá cả, ữang thiệt bị và việc truyén thông mà họ tiếp nhận được. Tuy nhiên, nhiệm vụ của các nhà cung ứng dịch vụ là tăng thêm các yếu tố hữu hình vào dịch vụ theo cách tốt nhất.
Trong khi các nhà làm marketing sản phẩm cố gắng thêm các yếu tố vô hình vào sản phẩm hữu hình của họ thì ngược lại nhũng người làm marketing dich vu lai cố gắng thêm các yếu tô hữu hình vào các cung ứng vô hình của họ. Tính không thể tách rời: Sản phâm hữu hình được sản xuất, tồn kho để bán sau đó và có thể sẽ tiêu dùng sau đó nữa. Ngược lại, dịch vụ trước hét phải được bán, sau đó mới được sản xuất và tiêu dùng vào cùng một thời diêm. Tính không thê tách rời của dịch vụ có nghĩa là dịch vụ không thể tách rời khỏi người cung úng dịch vụ, cho dù người cung ứng dịch vụ có thể là con người hoặc máy móc.
Nếu một nhân viên cung úng dịch vụ, do vậy nhân viên này là một phần của dịch vụ. Vì khách hàng cũng có mặt vào thời diêm dịch vụ được tao ra, sự tương tác giữa khách hàng và người cung ứng dich vụ là một đặc trung của marketing dịch vụ. Cả người cung úng và khách hàng đều tham gia vào chất lượng và kết quả của dịch vụ Tính đa dạng và không én định về chất lượng: Có nghĩa là chất lượng của dịch vụ phụ thuộc vào người cung ứng chúng cũng như khi nào, ờ đâu và chúng được cung úng như thế nao. Ching hạn, một khách sạn nào đó có danh.
tiêng ừong việc cimg ứng dịch vụ tốt hơn so với những khách sạn khác, ơ khách sạn này, có thê nhân viên lễ tân rất niềm nở và nhiệt tình, trong khi ờ một bộ phận khác gân đó nhân viên không vui vẻ và thiếu thiện chí, ngoài ra chất lượng dịch vụ mà các nhân viên cung ứng cũng thay đổi theo trạng thái tỉnh thần và thể chất của họ ở thời điểm mả họ cung ứng dịch vụ cho khách hàng. Tĩnh không lưu giữ được: Có nghĩa là địch vụ không thể lưu kho để bán hoặc sử dụng sau đó. Tính không thể lưu kho của lịch vụ không có vấn đề gì nếu nhu cầu đều đặn. Tuy nhiên, khi nhu cầu biển đổi nhiều, các công ty dịch vụ thưởng gặp nhiều khó khăn.
Chẳng hạn, vì nhu cầu vào nhũng giờ cao điểm là rất cao, nên hệ thống giao, thông công cộng phải trang bị nhiều phương tiện hơn cần thiết so với nhu cầu trung bình trong ngày. Do vậy, các công ty dịch vụ thường thiết kế chiến lược để cung ứng một sự phù hợp tốt hơn giữa nhu câu và sản xuât. Các khách sạn và các khu giải trí đưa ra mức giá thấp hơn vào những thời gian thâp điểm (mùa mưa) nhằm thu hút khách hang. Khdi niệm Marketing “Marketing là một quá trình quản lý mang tính xã hội, nhờ đó các cá nhân và tập thể có được những gì họ cần và mong muốn thông qua việc tạo ra, chào bán và trao đổi những sản phẩm có giá trị với những người khác”.
12] “Marketing cho khách hàng tổ chức (Marketing B2B) được định nghĩa là hoạt động mua bán hàng hóa và dịch vụ giữa các tổ chức nhằm sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp phục vụ cho quá trình hoạt động, sản xuất sản phẩm khác, hoặc bán lại của tô chức”. Các đặc điểm của Marketing công nghiệp (B2B) Mặc dù hoạt động Marketing B2B và B2C đều hướng tới việc bán sản phẩm cho khách hàng mục tiêu nhưng hai hình thức marketing B2B và BC này luôn tổn tại sự khác biệt nhất định. Một số đặc điểm của Marketing B2B phân biệt với B2C chính là : a. Mắi quan hệ giữa người bán và người mua chặt chế Mục tiêu của Marketing B2B là việc tạo ra giá trị cho khách hàng và tập trung vào việc tạo dựng mối quan hệ trung thành giữa người mua và người bán, vì vậy trong marketing công nghiệp mối quan hệ giữa nhà cung cấp và khách hàng là hết sức chặt chẽ và thiết yếu.