Chương I: Cơ sở lý luận về chiến lược kinh doanh. Chương 2: Thực trạng hoạt động kinh doanh và chiến lược kinh doanh của Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Nước Uống Tỉnh Khiết Sài Gòn Chương 3: Xây dựng chiến lược kinh doanh tại Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Nước Uống Tỉnh Khiết Sài Gòn giai đoạn 2015 ~ 2020. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Với chủ đề trọng tâm là xây dựng chiến lược phát triển công ty, tác giả đã tìm hiểu và nghiên cứu về một số tài liệu về quản trị chiến lược. Ý tưởng và nội dung của luận văn này được hình thành và hoàn thiện đựa trên các nguồn tài liệu trong và ngoài nước đặc biệt là cuốn Quản Trị Chiến Lược của.
TS Lê Thế Giới TS Nguyễn Thanh Liêm- ThS Trần Hữu Hải (2007), Nha xuất bản Thống Kê * Mô hình năm lực lượng cạnh tranh của Michael Porter ( Quản trị kinh doanh Harvard). Mô hình Porter Five Fores được xuất bản lần đầu trên tạp trí Havard Business Review năm 1979 với nội dung tìm hiểu yếu tố tạo ra lợi nhuận trong kinh doanh. Mô hình này được xem là công cụ hữu dụng và hiệu quả để tìm hiểu nguồn gốc lợi nhuận. Quan trọng hơn cả mô hình này cung cấp các chiến lược cạnh tranh để doanh nghiệp duy trì hay tăng lợi nhuận.
* Bài viết “Năng lực cốt lõi” trong tạp chí Havard Business Review năm 1990 của C.Prahalad và Gary Hame. Hai ông cho rằng “Năng lực lõi” là một trong những nguồn lực quan trọng nhất để tạo nên sự độc quyền và đây là một lợi thế mang tính chất nền tảng giúp công ty đứng vững trên thị trường vì nó rất khó bị các đối thủ cạnh tranh sao chép nhằm gây ảnh hưởng đến vị thế cạnh tranh của công ty. * Nghiên cứu tác động của công nghệ tới sự hài lòng của khách hàng và các mối quan hệ kinh doanh của doanh nghiệp từ các ngành công nghiệp nước giải khát - Dryding - Tạp chí bán lẻ và dịch vụ tiêu dùng, 2010 — Elsevier. Mục đích của nghiên cứu này là để êm tra sự tác động của công nghệ mới vào việc cải thiện các mối quan hệ khách hàng và sự hài lòng của khách hàng trong tông thể ngành công nghiệp bán hang.
* Những ảnh hưởng của chiến lược về mối quan hệ định hướng thị trường và hiệu quả kinh doanh - K Matsuno, JT Mentzer - Tap chi marketing, 2000 - journals. Trong bài viết này tác giả thực nghiệm xem xét vai trò của chiến lược kinh doanh như một thay thế, chiến lược kinh doanh điều hành tiềm năng của. mối quan hệ định hướng thị trường hiệu suất. Bằng cách sử dụng một số phiên bản cải tiến của Kohli và Jawors, tác giả đã tìm thấy bằng chứng hỗ trợ tác động điều hòa của loại chiến lược kinh doanh trên sức mạnh của mối quan hệ giữa định hướng thị trường và hiệu quả kinh doanh.
* Mô hình kinh doanh, chiến lược kinh doanh và sự đổi mới - DJ Teece - Long range planning, 2010 — Elsevie. Mục dích của nghiên cứu này là để hiểu được ý nghĩa của mô hình kinh doanh và khám phá các kết nối của họ với chiến lược kinh doanh, đổi mới quản lý,và lý thuyết kinh tế. CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE CHIEN LUQC KINH DOANH 1. TONG QUAN VE CHIEN LUQC 1.
Khái niệm về chiến lược Thuật ngữ chiến lược có nguồn gốc từ Hy Lạp và được sử dụng đầu tiên trong lĩnh vực quân sự để chỉ các kế hoạch lớn, dài hạn được đưa ra trên cơ sở tin chắc cái gì đối phương có thể làm và các gì đối phương không thể làm. Thông thường người ta hiểu chiến lược là kế hoạch và nghệ thuật chỉ huy quân sự Ngày nay, thuật ngữ chiến lược được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong lĩnh vực kinh doanh, cũng có nhiều cách tiếp cận về chiến lược. Cách tiếp cận truyền thống, chiến lược kinh doanh được xem như tổng thê đài hạn của một tổ chức nhằm đạt tới mục tiêu dài hạn.
Nhà nguyên cứu lịch sử quan ly, Alferd D. Chandler cho rằng “chiến lược là sự xác định các mục đích cơ bản và mục tiêu lâu dài của doanh nghiệp, xác định các hành động và phân bổ các nguồn lực thiết yếu để thực hiện các mục tiêu đã lựa chọn”. Khi nói đến chiến lược, người ta hay liên hệ đến sứ mệnh, tầm nhìn của doanh nghiệp. Thực ra không phải như vậy, sứ mệnh và tầm nhìn của doanh nghiệp mặc dù luôn được đưa vào như một phần của chiến lược nhưng nó không đưa ra một định hướng rõ ràng cho hoạt động của doanh nghiệp.
Chiến lược là việc tạo dựng một vị thế duy nhất và có giá trị nhờ việc triển khai một hệ thống các hoạt động khác biệt với những gì đối thủ cạnh tranh thực hiện. Vậy một chiến lược như thế nào sẽ giúp cho doanh nghiệp tạo dựng được vị thế như vậy trên thị trường? Theo cách tiếp cận hiện nay, chiến lược có thể rộng lớn hơn những gì mà doanh nghiệp dự định hay đặt kế hoạch thực hiện. Theo quan điểm của Mintzberg, ông cho rằng chiến lược là một mẫu hình trong dòng chảy các quyết định và chương trình hành động. Mẫu hình có thể là bất kỳ kiểu chiến lược nào: chiến lược được thiết kế từ trước hay chiến lược đột biến.
Cách tiếp cân hiện đại giúp doanh nghiệp dễ dàng ứng phó linh hoạt trước những biến động của môi trường kinh doanh và phát huy tính sáng tạo của các thành viên trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, nó đòi hỏi người lãnh đạo, quản lý phải có trình độ, khả năng dự báo được những điều kiện đề thực hiện chiến lược và đánh giá được giá trị của các chiến lược đột bị Một chiến lược cần bắt đầu bằng việc xác định các kết quả kỳ vọng mà chiến lược kinh doanh được xác lập để thực hiện chúng. Các mục tiêu chiến lược sẽ đóng vai trò định hướng cho các hoạt động của doanh nghiệp trong một số năm. Cần phân biệt giữa mục tiêu chiến lược với sứ mệnh, tầm nhìn của doanh nghiệp.
Thực tế, nhiều doanh nghiệp có xu hướng. nhằm lẫn giữa mục tiêu với sứ mệnh của doanh nghiệp. Sứ mệnh của doanh nghiệp chỉ ra mục đích hay lý do tồn tại của doanh nghiệp vì vậy thường mang tính khái quát cao. Ngược lại, mục tiêu chiến lược cần đảm bảo cụ định lượng và có thời hạn rõ ràng.
Việc lựa chọn mục tiêu gì có ảnh hưởng rất lớn đến doanh nghiệp. Một doanh nghiệp lựa chọn lợi nhuận cao là mục tiêu chiến lược sẽ tập trung vào phục vụ các nhóm khách hàng hay phân khúc thị trường đem lại lợi nhuận cao bằng các sản phẩm có giá trị gia tăng cao hoặc hiệu suất chỉ phi phí vượt trội. Ngược lại, việc lựa chọn mục tiêu tăng trưởng có thể dẫn dắt doanh nghiệp phải đa dạng hóa dòng sản phẩm để thu hút các khách hàng ở nhiều phân đoạn thị trường khác nhau. Mục tiêu quan trọng nhất mà chiến lược kinh doanh hướng tới là lợi nhuận cao và bền vững.
Mục tiêu chiến lược thường được đo bằng tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư (ROI) nhưng cũng có thể đo bằng các tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) hoặc tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA). Doanh nghiệp cũng có thể đưa các mục tiêu khác làm chiến lược như tăng trưởng, thị phần, chất lượng, giá trị khách hàng. Việc lựa chọn mục tiêu nào phụ thuộc vào ngành nghề và giai đoạn phát triển của mỗi doanh nghiệp, tuy nhiên doanh nghiệp phải it thận trọng trong việc lựa chọn mục tiêu tăng trưởng, giá trị cỗ phiếu hoặc lợi nhuận kế toán hàng năm làm mục tiêu chiến lược vì nó có thể dẫn dắt doanh nghiệp đi theo hướng phát triển không bền vững. Một chiến lược kinh doanh hiệu quả không tập trung vào thỏa mãn tắt cả các nhu cầu ở tất cả các phân khúc thị trường vì nếu làm như vậy doanh nghiệp sẽ phải phân tán nguồn lực và nỗ lực.
Vì vậy, doanh nghiệp cần phải đặt ra giới hạn về khách hàng, sản phẩm, khu vực địa lý hoặc chuỗi giá trị trong ngành để có sự tập trung và thỏa mãn tốt nhất nhu cầu khách hàng — đó là phạm vi chiến lược. Phạm vi chiến lược không nhất thiết phải mô tả chính xác những gì doanh nghiệp làm nhưng rất cần định rõ và truyền tải cho nhân viên doanh nghiệp sẽ không làm gì. Ví dụ, một ngân hàng xác định rõ không cấp tín dụng cho khách hàng kinh doanh các mặt hàng mà giá biến động mạnh như sắt thép, phân bón. Điều này là cần thiết để các nhà quản lý cấp trung không dành quá nhiều thời gian vào các dự án mà sau đó sẽ bị bác vì chúng không phù hợp với chiến lược.
Việc lựa chọn phạm vi phải dựa trên nguyên tắc thị trường có nhu cầu thực sự và doanh nghiệp thực sự am hiểu cũng như có thể đáp ứng được nhu cầu. Doanh nghiệp cũng cần tránh đối đầu với các đối thủ cạnh tranh mạnh hoặc đang đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng. Các cấp chiến lược trong doanh nghiệp Chiến lược có thể được quản lý ở nhiều cấp khác nhau trong một doanh nghiệp nhưng thông thường có các cấp chiến lược cơ bản sau: * Chiến lược cấp chức năng Chiến lược chức năng là các chiến lược xác định cho từng lĩnh vực hoạt động cụ thể của doanh nghiệp. Tập trung vào việc quản lý và sử dụng một cách có hiệu quả nhất các nguồn lực của doanh nghiệp và của mỗi đơn vị thành viên.
Các chiến lược chức năng được phát triển nhằm thực hiện thành công chiến lược cấp đơn vị kinh doanh và từ đó thực hiện thành công chiến lược cấp công ty. * Chiến lược cấp công ty Chiến lược cấp công ty xác định các hành động mà công ty thực hiện nhằm giành lợi thế cạnh tranh bằng cách lựa chọn, quản trị một nhóm các hoạt động kinh doanh khác nhau cạnh tranh trong một số ngành và thị trường. Chiến lược cấp công ty bao hàm định hướng chung của doanh nghiệp về vấn đề tăng trưởng quản lý các doanh nghiệp thành viên, phân bổ nguồn lực tài chính và các nguồn lực khác giữa những đơn vị thành viên này. Xác định một cơ cấu mong muốn của sản phẩm, dịch vụ, của các lĩnh vực kinh doanh mà doanh nghiệp tham gia kinh doanh (hoặc các ngành kinh doanh) mà doanh nghiệp đang hoặc sẽ phải tiến hành mỗi ngành cần được kinh doanh như thế nào (ví dụ: liên kết với các chỉ nhánh khác của công ty hoặc kinh doanh độc lập.