CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT Nội dung của chương này nhằm trình bay các lý thuyết, kết quả của mô hình của các nhà nghiên cứu di trước đã được chấp nhận liên quan đến lòng trung thành thương hiệu của khách hàng. Qua đó, các lý thuyết và nghiên cứu trước sẽ được kế thừa và sử dụng cho phù hợp với nghiên cứu của đề tài và bối cảnh thị trường Việt Nam. Để hiểu rõ được lòng trung thành thương hiệu của khách hang, trước hết cần đưa ra các khái niệm có liên quan như thương hiệu, lòng trung thành thương hiệu, ý nghĩa lòng trung thành thương hiệu đối với kinh doanh, các yếu tố ảnh hưởng đến lòng trung thành thương hiệu. Sau đó dựa vào các mô.
hình nghiên cứu của các tác giả trước để đưa ra mô hình đề xuất các yếu tố ảnh hưởng đến lòng trung thành thương hiệu của khách hàng. Khái niệm thương hiệu Cho đến nay khái niệm “Thương hiệu” đã được sử dụng rộng rãi trên thế giới cũng như Việt Nam, tuy nhiên vẫn còn có nhiều quan điểm hác nhau về khái niệm này, Theo quan điểm của Philip Kotler: “Thương hiệu là tên, thuật ngữ, ý hiệu, biểu tượng hay kiểu dáng hoặc một sự kết hợp những yếu tố đó nhằm xác nhận hàng hóa hay dịch vụ của một người bán hay một nhóm người bán và phân biệt chúng với những thứ của các đối thủ cạnh tranh” (Kotler, 2003, trang 499). “Theo Moore (2003), thương hiệu là tổng hợp tat cả các nhân tố vật chất, thấm mỹ, lý lẽ và cảm xúc của một sản phẩm, hoặc một dạng sản phẩm, bao gồm bản thân sản phẩm, tên gọi, logo, hình ảnh và mọi sự thể hiện hình ảnh, " dần qua thời gian được tạo dựng rõ ràng trong tâm trí khách hàng nhằm thiết lập một chỗ đứng. Có thể nói thương hiệu là hình thức thể hiện bên ngoài, tạo ra ấn tượng và niềm tin của người tiêu dùng đối với sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp cung ứng.
Giá trị của một thương hiệu là triển vọng lợi nhuận mà thương hiệu đó có thể đem lại cho nhà đầu tư trong tương lai. Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ cho rằng thương hiệu là “kinh nghiệm khách hàng được đại diện bởi một tập hợp các hình ảnh và ý tưởng; nó đề cập đến một biểu tượng như tên, logo, khẩu hiệu, và chương trình thiết kế. Xác nhận thương hiệu và phản ứng khác được tạo ra bởi sự tích tụ của kinh nghiệm với các sản phẩm hoặc dịch vụ cụ t liên quan đến việc sử dụng nó, và thông qua ảnh hưởng của quảng cáo, thiết kế, và phương tiện truyền thông bình luận. Một thương hiệu thường bao gồm một biểu tượng rõ ràng, phông chữ, màu sắc chương trình, biểu tượng, âm thanh mà có thể được.
phát triển để đại diện cho các giá trị tiềm ẩn, ý tưởng, và thậm chí cả cá tính” (AMA, 2010). Lý thuyết mồi quan hệ của thương hiệu cho thấy rằng, thương. hiệu là một công cụ kết nối khách hàng và nhà cung cấp cho công ty và là có nghĩa là để duy trì mối quan hệ như vậy trong thời gian dài (Davis, Oliver, và Brodie, 2000; Chang & Chieng, 2006). Thương hiệu ảnh hưởng và hỗ trợ khách hàng chọn một thương hiệu tốt thỏa mãn nhu cầu, mong muốn của họ và lựa chọn đúng sản phẩm hoặc dich vụ cụ thẻ.
Từ những định nghĩa trên ta thấy dù sử dụng những cách thức khác nhau để thể hiện nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu và các nhà kinh doanh đều có chung một thống nhất rằng thương hiệu không chỉ là sản phẩm, mà nó còn có những yếu tố giúp phân biệt sản phẩm đó với những sản phẩm khác được thiết kế để đáp ứng cùng một nhu cầu. Những sự khác biệt này có thể là lý tính và hữu hình hoặc cảm tính và vô hình. Quan trọng hơn, thương hiệu có thể tạo ra “giá trị thăng dư” cho sản phẩm hoặc dịch vụ. Chính nhờ “giá trị 12 thặng dư” đó mà ngày nay không ít các doanh nghiệp trên thế giới coi các thương hiệu là tài sản lớn nhất mà họ nắm giữ.
Đặc điểm thương hiệu Theo Aaker (1991) quan niệm đặc điểm thương hiệu gồm có 12 khía cạnh thiết lập xung quanh 4 phương diện chủ yếu sau: a. Thương hiệu như sản phẩm, bao gồm: phạm vi sản phẩm, thuộc tính sản phẩm, chất lượng, giá trị, người sử dụng, nước xuất xứ. “Thuộc tính là giá trị cốt lõi sản phẩm và có mối quan hệ trực tiếp với hành vi mua sắm và tiêu dùng của khách hàng. Các thuộc thuộc tính này có.
thể được làm tăng giá trị bởi những đặc diểm khác biệt so với các sản phẩm cùng loại. Tuy nhiên thuộc tính sản phẩm không phải là trọng tâm tạo nên đặc. điểm thương hiệu mà còn phụ thuộc vào các yếu tố như: chất lượng, giá trị, người sử dụng hay nước xuất xứ. Thương hiệu như tỗ chức, bao gồm: thuộc tính tô chức, địa phương và toàn cầu.
Khía cạnh thương hiệu với tư cách là một tổ chức tập trung vào những đặc điểm của tổ chức hơn là vào sản phẩm hay dịch vụ. Thuộc tính tổ chức. mang lại giá trị bền vững hơn là những đặc tính của sản phẩm riêng lẻ. Thuộc tính về tổ chức là một quá trình hình thành và xây dựng lâu dài để tạo nên một hình ảnh tốt đẹp trước khách hàng và công chúng.
Một doanh nghiệp chú trọng tới thuộc tính môi trường, dẫn đầu công nghệ, quan tâm tới sức khỏe cộng đồng. có thể sẽ nhận được sự quan tâm và yêu mến từ phía khách hàng và công chúng. © Thương hiệu như người, bao gồm: nhân cách thương hiệu, mối quan hệ khách hàng thương hiệu. Ở khía cạnh này, đặc điểm của thương hiệu được xem xét như một con người.
Vì vậy, thương hiệu cũng có thể cảm nhận với các cá tính như vượt 13 trội, tính cạnh tranh, độc đáo ấn tượng, năng động hay trẻ trung.Những cá tính này tạo nên một thương hiệu qua mạnh qua các cách khác nhau. Khách hàng có thể tự thể bản thân mình qua các cá tính của thương hiệu. Thương hiệu như biểu tượng, bao gồm: hình ảnh trực quan/sự ân dụ và di sản thương hiệu. Một biểu tượng ấn tượng và sâu sắc có thê dễ dàng được gợi nhớ, chấp nhận bởi người tiêu dùng.
Việc nhận biết và nhớ đến hình ảnh thương hiệu là một yếu tố nền tảng cho việc sử dụng và trung thành đối với thương hiệu. ‘Tom lại, một thương hiệu không nhất thiết phải hội đủ tất cả các khía cạnh nêu trên. Đối với một số thương hiệu, chỉ cần tập trung vào một số khía cạnh thích hợp, làm cho nó nỗi bật và khác biệt, làm sao để nó lưu giữ trong tâm trí của khách hàng là có thể thành công. Vai trò của thương hiệu a.
Vai trò đối với người tiêu dùng. Thương hiệu giúp khách hàng xác định rõ nguồn gốc, xuất xứ của sản phẩm thông qua những thông tin đăng ký bảo hộ thương hiệu để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của từng doanh nghiệp, Thuong hiéu giúp báo hiệu những đặc điểm và thuộc tính của sản phẩm tới khách hàng thông qua các nhóm sản phẩm tìm kiếm lợi ích được đánh giá bằng mắt, bằng kinh nghiệm và sự tin tưởng. “Thương hiệu giúp khách hàng tiết kiệm chỉ phí rủi ro khi tìm kiếm sản phẩm nhờ những kinh nghiệm có sẵn đối với một sản phẩm mà người tiêu dùng biết đến từ đó họ lựa chọn ra những thương hiệu nào phù hợp với nhu cầu của mình nhất. Thương hiệu làm giảm rủi ro khi quyết định mua và tiêu dùng một sản phẩm vì đa số người tiêu dùng dựa vào thương hiệu quen thuộc, nồi tiếng 14 hoặc hình ảnh của doanh nghiệp như một sự bảo đảm cho chất lượng của hàng hoá hay dịch vụ mà họ sử dụng.
Thuong hiệu giúp khách hàng nâng cao vị thế trong xã hội, góp phần tạo ra một giá trị cá nhân cho người tiêu dùng, một cảm giác sang trọng và được tôn vinh. Một thương hiệu nỗi tiếng sẽ mang đến cho khách hàng một giá trị cá nhân như cảm giác được sang trọng hơn, nôi bật hơn, đăng cấp hơn và được tôn vinh khi sử dụng sản phẩm của thương hiệu đó. b, Vai trò đối với doanh nghiệp Thương hiệu giúp tạo dựng hình ảnh doanh nghiệp và sản phẩm trong tâm trí người tiêu dùng thông qua định vị doanh nghiệp trên thị trường, thuộc tính của hàng hóa như kết cấu, hình dáng kích thước, màu sắc hoặc các dịch vu sau ban hang sé là tiền để để người tiêu dùng lựa chọn chúng bằng sự cảm nhận của mình. Thương hiệu đóng vai trò quan trọng trong việc phân đoạn thị trường của doanh nghiệp thông qua chức năng nhận biết và phân biệt sao cho phù hợp và thỏa mãn với nhu cầu từng nhóm khách hàng cụ thể.
Thương hiệu như một lời cam kết giữa doanh nghiệp và khách hàng thông qua sứ mệnh, tầm nhìn chiến lược, các yếu tố cấu thành nên thương, hiệu như logo, khâu hiệu là những cam kết của doanh nghiệp muốn mang đến cho khách hàng những sản phẩm và dịch vụ tốt nhất. Thương hiệu là tải sản vô hình và rất có giá của doanh nghiệp, khi thương hiệu trở nên có giá trị ngojời ta sẽ sẵn sàng thực hiện việc chuyển nhượng hoặc chuyển giao quyền sử dụng thương hiệu đó. LÒNG TRUNG THÀNH THƯƠNG HIỆU 1. Khái niệm về lòng trung thành thương hiệu David A.
Aaker (1992) cho rằng lòng trung thành thương hiệu là cơ sở nòng cốt của tài sản thương hiệu. Sự hài lòng và hành vi mua lặp lại của 15 khách hang là thước đo đối với lòng trung thành của một thương hiệu. Dick & Basu (1994) thì nói rằng lòng trung thành thương hiệu là khi khách hàng có thái độ tích cực đối với thương hiệu và mua thương hiệu một cách ôn định nhất. Oliver (1999) thì cho rằng lòng trung thành thương hiệu là sự cam kết sâu sắc việc mua lặp lại ỗn định một sản phẩm/dịch vụ ưa thích trong tương.
lai, từ đó dẫn đến việc mua lặp lại một thương hiệu hoặc một nhóm thương hiệu mà không bị ảnh hưởng bởi yếu tố tình huống và các hoạt động marketing. Ngày nay, các doanh nghiệp ngày càng nhận ra thương hiệu của họ là một tài sản lớn trong kinh doanh. Do đó lòng trung thành là tài sản đặc biệt có ý nghĩa quan trọng đối với các doanh nghiệp. Lòng trung thành thương hiệu mang lại lợi ích rất lớn cho doanh nghiệp.
Thương hiệu càng có giá trị thì cảng tạo được lòng trung thành của người tiêu dùng cao và lợi nhuận đem lại cho doanh nghiệp càng cao.