Chương 1. Lý luận chung về quản trị rủi ro trong công tác bảo vệ an ninh con người Chương 2. Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng quản trị rủi ro trong công tác bảo vệ an ninh con người cua Văn phòng Quốc hội giai đoạn 2019-2022 Chương 4. Một số giải pháp nâng cao năng lực quản trị rủi ro trong công tác đảm bảo an ninh con người của Văn phòng Quốc hội giai đoạn 2024-2026 10 CHUONG 1.
LÝ LUẬN CHUNG VE QUAN TRI RỦI RO TRONG CONG TÁC BAO VE AN NINH CON NGUOI 1. Khái quát về vấn đề an ninh con người 1. Khái niệm An ninh con người (ANCN) được nhìn nhận như một phía cạnh của An ninh phi truyền thống (ANPTT). Trước khi đi sâu phân tích khái niệm ANCN, tác giả sẽ làm rõ nội hàm của ANPTT.
Học giả Mỹ Joseph Nye từng nói “An ninh như oxy trong không khí. Người ta chỉ nhận biết được nó khi đột nhiên vì một ly do nào đó mà không được tự do hít thở nữa”. Vì vậy, sự xuất hiện mối đe dọa đặt ra yêu cầu cần có sự đảm bảo an ninh. An ninh thường được phân loại thành: an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống.
Khái niệm “An ninh phi truyền thống” (ANPTT) là một bước phát triển từ “An ninh truyền thông” (ANTT) nhưng có đặc điểm mới hơn. Trong khi khái niệm ANTT lấy chủ thé Nhà nước làm trung tâm (state- centric), tập trung vào khía cạnh quân sự (military-oriented) và áp đảo các nghiên cứu về an ninh quốc tế trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh thì ANPTT được cho mới phát triển sau sự kiện 11/9 ở Mỹ, với hướng tiếp cận những thách thức mới như tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, khủng bố, an ninh mạng, biến đổi khí hậu, thảm họa thiên nhiên, an ninh môi trường, an ninh năng lượng, an ninh môi trường." Nhìn chung, có 2 trường phái ANPTT như sau: Trường phái thứ nhất, quan ANPTT là an ninh tổng hop bao gồm an ninh quân sự, chính trị, kinh tế và xã hội. Trường phái này cho rằng ANPTT là một khái niệm mở rộng nội hàm của khái niệm an ninh truyền thống- quan niệm lấy an ninh quân sự làm trung tâm. Theo Liên hợp quốc, ANPTT gồm an ninh con người (cá nhân) và an ninh cộng đồng với 7 lĩnh vực (phân tích ở phần sau).
Trường phái thứ hai, quan niệm ANPTT là một khái niệm đối lập với ANTT, phạm vi của ANPTT không bao gồm an ninh quân sự. Đó là những nguy cơ an ninh mới như khủng hoảng kinh tế, ô nhiễm môi trường, tội phạm xuyên quốc gia, khủng bó, di dân. Những vấn đề ANPTT này vẫn có thê dẫn đến xung đột quân sự, chiến tranh. An ninh con người (ANCN) cũng được xếp thành một hình thái của ANPTT.
Trên thé giới Khái niệm An Ninh Con Người (ANCN) xuất hiện trong giai đoạn chứng kiến nhiều biến động lớn trên thế giới như sụp đồ của Liên Xô, kết thúc Chiến tranh Lạnh và sự xuất hiện `, Joseph S. The Case for Deep Engagement. Foreign Affairs, July—August 1995, p. “Luc Anh Tuấn (2022).
An ninh phi truyền thông: Từ nhận thức đến giải pháp. Website Hội đồng Lý luận TW.vn/vi/nghien-cuu---trao-doi/an-ninh-phi-truyen-thongtu-nhan-thuc-den-giai-phap.html 11 của các xu hướng mới trong nghiên cứu an ninh. Người đầu tiên đề cập đến ANCN là nhà tâm lý học người Canada W. Blatz trong thập niên 1960.
Đến đầu những năm 1990, xu hướng toàn cầu hóa và sự xuất hiện mạnh mẽ của các chủ thé phi quốc gia tạo ra những thách thức an ninh mới. Câu hỏi về vai trò của quốc gia, dân tộc, quyền lực và sức mạnh - đối tượng hàng đầu của an ninh - được đặt ra. Lý thuyết về "an ninh lấy con người làm trung tâm" hay an ninh con người, bắt đầu được quan tâm và phát triển. Khái niệm này được đưa ra trong Báo cáo Phát triển Con người của Liên Hiệp Quốc năm 1994.
Theo UNDP, nhiều quốc gia trước đó chủ yếu quan tâm đến an ninh quốc gia, trong khi đối mặt với những mối lo ngày càng phô biến đối với người dân bình thường. UNDP định nghĩa ANCN bao gồm 7 thành phần chính: kinh tế, lương thực, y tế, môi trường, cá nhân, cộng đồng, và chính tri. Khái niệm ANCN đã thay đổi cách quốc gia nhìn nhận về an ninh, đặc biệt là về VIỆC bảo vệ ai và bảo vệ trước những mối đe dọa nào. Trong khi ANQG tập trung vào an ninh quốc gia, ANCN đặc trưng bởi sự quan tâm đến mối de doa cấp thấp như nghèo đói, ô nhiễm môi trường, và dịch bệnh, cũng như những thách thức toàn cầu như buôn lậu, tội phạm xuyên biên giới và biến đồi khí hậu.
- Quan điểm của các tổ chức chính phủ Có nhiều khái niệm về ANCN, trong đó quan niệm về được ghi nhận trong “Báo cáo phát triển con người” năm 1994 của Liên hợp quốc được coi là mẫu mực nhất. Theo đó, “An ninh con người có thé nói gồm hai khía cạnh chính. Dau tiên, nó có nghĩa là an toàn trước những mối đe dọa kinh niên như nạn đói, bệnh tật và sự đàn áp. Thứ hai, nó có nghĩa là bảo vệ chong lại sự phá vỡ đột ngột và gây tổn thương đối với mẫu hình cuộc sống hằng ngày - cho dù trong gia đình, trong công việc hay trong cuộc sống” Theo Nguyên Tổng thư ký Liên hợp quốc Kofi Annan, ANCN mang hàm nghĩa bao trùm hơn nhiều so với việc không có xung đột bạo lực.
“Nó bao gồm quyển con người, quản trị tot, tiếp cận với giáo đục và chăm sóc sức khỏe và đảm bảo rằng mỗi cá nhân có cơ hội và lựa chọn dé phát huy hết tiềm năng cua mình.”® Ở góc độ Trung Quốc, Cựu Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại của Nhân đại Trung Quốc Phó Oánh nhận định rằng an ninh dé con người tôn tại và phát triển là điều cơ bản của mọi hình ° United Nations Development Program (1994). Human development report. (NewYork: Oxford University Press, 1994, P. Towards a Culture of Peace.org/opi2/lettres/TextAnglais/AnnanE.html 12 thức an ninh.
Nói cách khác, những người bình thường có quyền và được sống với phâm giá trong một môi trường an toàn. Theo ba Phó, cốt lõi của Giấc mộng Trung Hoa (Chinese Dream) vé sự phục hưng đất nước do Chủ tịch Tập Cận Bình đề xuất là làm cho 1,3 tỷ người Trung Quốc có một cuộc sống tốt hơn và hạnh phúc hon’. Dựa vào "Báo cáo Phát triển Con người", Nhật Bản đã duy trì khái niệm “an ninh con người” như một trụ cột quan trọng trong chính sách đối ngoại của nước này và đã có những sáng kiến tích cực để phổ biến nó. Bộ Ngoại giao Nhật Bản định nghĩa ANCN là “Mot khái niệm nhằm thúc day xây dựng quốc gia và cộng đồng qua việc trao quyên và bdo vệ mỗi các cá nhân được sống hạnh phúc và có phẩm giá, không sợ hãi và thiếu thốn.”Š Đối với Canada, “an ninh con người có nghĩa là tự do khỏi các mối de doa lan rộng đối với quyên, sự an toàn hoặc tính mạng của con người.
Tiếp cận với khái niệm an ninh con người đối với Liên minh châu Âu (EU) có nghĩa là "»ó phải góp phan bảo vệ mọi cá nhân con người chứ không chi bảo vệ biên giới của Liên minh, hay là cách tiếp cận an ninh cua các quốc gia-dân t6c.'°” - Quan điểm của giới hoc giả Học giả Kanti Bajpai tại Dai học Quốc gia Singapore định nghĩa "An ninh con người liên quan đến việc bảo vệ sự an toàn cá nhân và sự tự do của cá nhân khỏi các mối đe dọa lly bạo lực trực tiếp và gián tiép. Học giả người Anh Anne Hammerstad (Co quan Di cư Agulhas) nhìn nhận ANCN là "việc dat được các điều kiện xã hội, chỉnh trị, môi trưởng và kinh tế có lợi cho cuộc sống tự do và phẩm giá cho cá nhân.'” " Nhóm học giả Jennifer Leaning, M. và Sam Arie tại Dai hoc Harvard (Mỹ) nhận định "An ninh con người là điều kiện cơ bản dé phát triển con người bền vững, xuất phát từ các khía cạnh xã hội, tâm lý, kinh tế và chính trị của cuộc sống con người mà trong thời kỳ khủng hoảng nghiêm trọng hoặc thiểu thôn kinh niên sẽ bảo vệ sự sông còn của các ca 7 Tham khảo: https://www.de/en/media-library. ® Tham khảo website Bộ Ngoại giao Nhật Bản: https://www.jp/policy/oda/human_index.html ° Foreign Affairs and International Trade Canada (2004).
Summative Evaluation of the Human Security Program.ca/about-a_propos/oig-big/2004/evaluation/human_security- securite_humaine.aspx?lang=eng = A Human Security Doctrine for Europe (2015).eu/uedocs/cms_data/docs/pressdata/solana/0409 | Scapbar.pdf “ The Idea of a Human Security Audit. Kroc Institute Report, No.edu/~krocinst/ocpapers/op_19_1.PDF> 08/22/01 ” Anne Hammerstad (2000). Whose Security? UNHCR, Refugee Protection and State Security After the Cold War. 13 nhân, hỗ trợ năng lực cá nhân và các nhóm người dé đạt được mức sống phù hợp tối thiểu, và thúc day sự gắn bó nhóm mang tính xây dựng và liên tục qua thời gian.
Tại Việt Nam Quan điểm của giới học giả Có nhiều cách tiếp cận khác nhau khái niệm về “an ninh con người”. Nhiều quan điểm cho rằng ANCN đã va đang chuyền từ bảo vệ chủ quyền sang bảo vệ an ninh cá nhân con người, kế cả việc xâm phạm chủ quyền ANQG của nước khác. Mỗi quốc gia, mỗi tổ chức định nghĩa về “an ninh con người” với phạm vi rộng hẹp khác nhau, trong đó có cả những mục tiêu chính trị, xen lẫn các mục tiêu bảo đảm quyền con người. Quan niệm về ANCN của UNDP là tương đối toàn diện.
Tuy nhiên nếu sử dụng quan niệm này ở Việt Nam sẽ dẫn tới hiểu lầm với quan niệm chính thống về ANQG và các thành tố của ANQG được quy định trong Luật An ninh quốc gia và Chiến lược An ninh quốc gia năm 1998 và 2019. Từ thực tiễn Việt Nam, qua nghiên cứu, tông kết kinh nghiệm trong nước và có tham khảo kinh nghiệm quốc tế, trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước “An ninh xã hội, an ninh con người trong điều kiện mới ở Việt Nam hiện nay- Thực trạng, van đề đặt ra và giải pháp” mã số KX.26/16-20” của Hội đồng Lý luận trung ương năm 2019, tác giả Nguyễn Xuân Yêm và các nhà khoa học của Học viện Cảnh sát nhân dân ( Bộ Công an) và Hội đồng Lý luận Trung ương đã đề xuất khái niệm an ninh con người như sau: An ninh con người là một bộ phận của an ninh quốc gia, an ninh phi truyền thống, an ninh xã hội, là trạng thái mà con người được bảo vệ trước các nguy cơ gây bất ôn nhằm thiết lập và duy trì về an ninh, cuộc song hạnh phúc, thỏa mãn các nhu cầu vật chất, tinh thần và đảm bảo an toàn của con người trước các mối đe dọa.