CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CHAT LƯỢNG NGUÒN NHÂN LỰC DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm, vai trò của nguồn nhân lực 1. Khái niệm nguồn nhân lực Khi đề cập đến sự phát triển của một quốc gia, không thé bỏ qua các nguồn lực cần thiết cho sự phát triển kinh tế như vốn, tài nguyên thiên nhiên, khoa học công nghệ và con người.
Trong số đó, con người được coi là yếu tố quan trọng và quyết định đến sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia từ xưa đến nay. Ngay cả khi một quốc gia có tài nguyên thiên nhiên đồi dào, vốn có giá trị và máy móc kĩ thuật hiện đại, nhưng nếu nguồn lực con người bị hạn chế về trình độ hoặc không có khả năng khai thác hiệu quả các nguồn lực nay, thi rất khó dé dat được sự phát triển theo mong muốn. Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về NNL như: Liên Hợp Quốc cho rằng nguồn tài nguyên con người bao gồm toàn bộ tri thức, kỹ năng và năng lực của con người, có mối quan hệ trực tiếp đến sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia. Hiện nay, khái niệm về Nhân lực Ngày càng mở rộng, không chỉ giới hạn trong độ tuổi lao động mà còn bao gồm cả những cá nhân ở ngoài độ tuổi lao động (Trích dẫn từ Trần Xuân Cau và Mai Quốc Chánh vào năm 2009).
Theo tổ chức Ngân hàng Thế giới, NNL đại diện cho toàn bộ nguồn lực của con người, bao gồm sức khỏe, trí tuệ và kỹ năng nghề nghiệp mà mỗi cá nhân sở hữu và có thê được huy động trong quá trình sản xuất kinh doanh hoặc các hoạt động khác. Trong ngữ cảnh này, NNL được coi là một nguồn vốn phụ thuộc vào các nguồn vốn vật chất khác, nhưng vai trò của nó là đặc biệt quan trọng vì nó được sử dụng để tận dụng, duy trì và khai thác các nguồn vốn vật chất đó. Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) khang định răng, nhân lực có thé được coi là lực lượng lao động. Quan điểm này cho rằng, nguồn nhân lực là toàn bộ tiềm năng lao động của con người trong một quốc gia đã được chuẩn bị ở một mức độ cụ thể, có khả năng sử dụng vào quá trình phát triển kinh tế và xã hội của đất nước.
11 Tiềm năng này bao gồm tat cả các năng lực về thé chat, trí tuệ và nhân cách của con người trong một quốc gia, phù hợp với yêu cầu lao động từ hệ thống kinh tế. Theo GS, Viện sĩ Phạm Minh Hạc: "Nguồn lao động là tập hợp những kha năng lao động của một quốc gia hoặc một vùng, tức là nguồn lao động đã sẵn sàng (với những trình độ khác nhau) để thực hiện một quá trình lao động nao đây, tức nhóm người lao động có kỹ năng (hay trình độ nhất định), theo con đường không thoả mãn các nhu cầu của quá trình chuyên dịch cơ cấu lao động, nền kinh tế thị trường theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá” (Phạm Minh Hạc 2001, tr. Theo đó, nguồn lực lao động được biểu hiện qua tổng số dân, nguồn lực lao động (gồm sức khoẻ, trí tuệ và khả năng lao động). Như vậy, NNL không những bao gồm cả NNL hiện nay mà còn bao gồm chất lượng nguồn cung ứng lao động trong tương lai.
Cách giải thích trên bắt nguồn từ quan điểm rằng NNL là nguồn lực với những nhân tố thé chat, tâm lý hình thành nên tiềm lực, khả năng hoạt động cho doanh nghiệp nói chung. Theo Tiến sĩ Nguyễn Hữu Dũng:"Nguồn nhân lực được xem xét dưới hai khía cạnh quan trọng, đó là khả năng xã hội và khả năng thay đổi xã hội. Ở góc độ đầu tiên, nguồn nhân lực là một nguồn cung cấp lao động quan trọng cho xã hội, là một phần không thé thiếu trong dân số, có khả năng tạo ra giá tri vật chất và tinh thần cho xã hội. Đánh giá nguồn nhân lực dưới dạng tiềm năng giúp chỉ ra hướng phát triển của nguồn nhân lực để đảm bảo không ngừng nâng cao khả năng xã hội thông qua giáo dục, đào tạo và chăm sóc sức khỏe.
Tuy nhiên, chỉ có tiềm năng chưa đủ. Đề phát triển tiềm năng này, cần biến nguồn nhân lực thành vốn nhân lực hoạt động, tức là tăng cao khả năng thay đổi của con người thông qua các chính sách, quy chuẩn và giải phóng hoàn toàn tiềm năng con người. Con người với tiềm năng vô tận, khi được tự do phát triển, tự do sáng tạo và đóng góp, và được trả công xứng đáng với giá trị lao động của mình, thì tiềm năng vô tận này sẽ được khai thác và phát triển thành một nguồn vốn cực kỳ lớn."(Theo Nguyễn Hữu Dũng, 2003, tr. Từ các quan điểm nêu trên, NNL có thé hiểu theo hai khía cạnh: Theo một nghĩa rộng, NNL đại diện cho nguồn cung cấp sức lao động cho hoạt động sản xuất 12 xã hội và là nguồn lực con người đề thúc đây sự phát triển.
Do đó, NNL bao gồm tắt cả dân số có khả năng tiến bộ. Theo một nghĩa hẹp hơn, NNL chỉ là khả năng lao động của xã hội va là nguồn lực dé thúc day phát triển kinh tế-xã hội, bao gồm nhóm dan số trong độ tuổi lao động và có khả năng tham gia vào hoạt động sản xuất xã hội. Đây chính là toàn bộ cá nhân được liệt kê cụ thể trong quá trình lao đông, va là tổng thể các yếu tố về thể lực và trí lực của họ được sử dụng trong công việc. Trong phạm vi đề tài nghiên cứu, luận văn đã tập trung vào Nguồn Nhân lực (NNL) trong tô chức, Doanh nghiệp.
Vì vậy, khái niệm về NNL có thé được tổng quát như sau:"NNL là những cá nhân hoạt động trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật, bao gom toàn bộ các yếu to liên quan đến thể lực, tâm lực và trí lực của mỗi cá nhân được áp dụng vào công việc đề đảm bảo thành công của doanh nghiệp theo các mục tiêu đã được đặt ra". Vai trò của nguồn nhân lực trong phát triển kinh doanh và trong việc đảm bao an ninh doanh nghiệp 1.1 Vai trò của nguồn nhân lực trong phát triển kinh doanh Con người tận dụng quyền sở hữu lao động của mình và kết hợp với công cụ lao động dé tạo ra những thành tựu vật chất đáp ứng nhu cầu cá nhân. Hiện nay, quá trình phân chia công việc đã tiến xa, và các công cụ lao động thô sơ đã được thay thế băng những dây chuyền máy móc hiện đại. Trong xã hội hiện đại, chỉ có con người mới có khả năng vận hành các thiết bị hiện đại, nghiên cứu và phát triển công nghệ mới, và tận dụng toàn bộ tiềm năng của máy móc để phục vụ cho hoạt động sản xuất.
Do đó, có thé khang định rằng con người hay nguồn lực lao động có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế. Trong mỗi tổ chức kinh doanh, nhân lực đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tẾ, đảm bảo an ninh doanh nghiệp. Người lao động là nhân tố quyết định trong việc xác định chính sách, đề ra hướng đi để thực hiện các chính sách và cũng là người dẫn dắt tiên phong trong việc thực thi các nhiệm vu theo chính sách đã được xác lập. Vai trò của nhân lực được biểu hiện rõ ràng vả cụ thê như sau: 13 Nguồn nhân lực được coi là yếu tố hàng đầu góp phần tạo ra lợi nhuận.
Trong quá trình sản xuất, sự kết hợp của các yếu tô như trang thiết bị, tài sản, nguồn tài chính và nguồn nhân lực đã góp phần quan trọng. Tuy nhiên, con người lại chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong số đó. Không có những cá nhân làm việc hiệu quả, tổ chức không thé đạt được mục tiêu đã đề ra. Nguồn nhân lực còn đảm bảo sự sáng tạo toàn diện trong tổ chức.
Nguồn nhân lực được coi là nguồn lực mang tính chiến lược: Nền kinh tế dang dần chuyên từ mô hình truyền thống sang mô hình tri thức. Các yếu tố liên quan đến công nghệ, vốn và nguyên vật liệu đang mat dan vai trò quan trọng của chúng. Đồng thời, yếu tố tri thức của con người ngày càng chiếm vị trí cao quý: Nguồn nhân lực có tính chất linh hoạt, sáng tạo và hoạt động trí tuệ của con người càng trở nên toàn diện. Nguồn nhân lực đầy tiềm năng không thể đo băng vật chất, do đó cần tận dụng một cách hợp lý.
Mục đích là tạo ra nhiều tài sản vật chất để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của con người.1 Vai trò của nguôn nhân lực trong việc đảm bảo an ninh doanh nghiệp Thứ nhất, đảm bảo an toàn cá nhân trong doanh nghiệp. Nguồn nhân lực là yêu tố chủ chốt ảnh hưởng đến sự phát triển của một Doanh nghiệp, là những người đã và đang làm việc ở nhiều vị trí khác nhau trong một tổ chức. Chính vì vậy, họ là người chịu trách nhiệm trực tiếp đối với những hoạt động kinh doanh, sáng tạo, tạo ra lợi thế cạnh tranh cho Doanh nghiệp. Bởi vậy, sự quan trọng của nguồn nhân lực nên công tác quản lý nhân sự luôn được đặt lên hàng đầu.
Tất cả thành viên, từ cấp quản lý đến nhân viên, cần năm được các kiến thức cơ bản về công việc cũng như trách nhiệm của bản thân mình đối với mục tiêu chung của công ty. Mỗi cá nhân trong cong ty luôn trau đồi kiến thức, tuân theo an toàn lao động giúp công ty luôn bền vững và phát triển. Thứ hai, đảm bảo an ninh công nghệ doanh nghiệp. Nguồn nhân lực chất lượng càng cao sẽ thúc đây ứng dụng và sáng tạo công nghệ, giúp doanh nghiệp tăng năng suất lao động, cải thiện hiệu quả kinh doanh.
Đây là lực lượng nhân lực tỉnh túy nhất với những phẩm chat, kỹ năng nổi trội trên nhiều phương diện mà đặc 14 biệt là khả năng sáng tạo, tạo ra những cái mới về chất so với những cái hiện có. Do đó lực lượng này là bộ phận xung kích trong nghiên cứu khoa học, trong tiếp nhận chuyền giao công nghệ. Thứ ba, đảm bảo an ninh thương hiệu doanh nghiệp. Thương hiệu là tất cả yêu tô về hữu hình (tên, logo, hình ảnh, slogan.) tới vô hình (giá trị cốt lõi, trải nghiệm, tầm nhìn, tư duy) mà doanh nghiệp muốn truyền tải tới khách hàng.
Thương hiệu nổi tiếng có thể gây dấu ấn đặc biệt trong lịch sử do giá trị đặc biệt đem lại cho con người, do vậy con người có vai trò rất lớn trong việc đảm bảo an ninh thương hiệu doanh nghiệp. Thứ tư, dam bảo an ninh tài chính doanh nghiệp.