CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÓA MÙ CHỮ, PHỔ CẬP GIÁO DỤC 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Ở nước ngoài1 Trong lịch sử xã hội loài người, trải qua các thời kỳ lịch sử từ thời cộng sản nguyên thủy đến thời kỳ chủ nghĩa tư bản, xã hội chủ nghĩa, giáo dục luôn là vấn đề được con nguời quan tâm, không chỉ các nhà giáo dục học, mà còn cả các nhà triết học, các nhà tâm lý học, các nhà kinh tế học…Tư tưởng XMC-PCGD đã xuất hiện từ thời kỳ cổ đại và tùy theo từng thời kỳ lịch sử, trình độ kinh tế-xã hội, các tư tưởng XMC, PCGD của mỗi thời kỳ có những điểm khác biệt.
Ở Hi Lạp cổ đại, giáo dục ở nhà nước Xpáctơ, đã quy định trước 7 tuổi, trẻ em được giáo dục ở gia đình, từ 7 đến 18 tuổi trẻ em trai được tập trung vào các trường học gọi là trường thể thao. Giáo dục ở Aten, quy định trước 7 tuổi trẻ em được giáo dục trong gia đình, từ 7 đến 12 tuổi trẻ vào trường học gọi là trường học văn và trường học đàn, từ 13 tuổi trẻ được vào học trong trường thể thao, đến 18 tuổi học xong trường thể thao, với cách giáo dục cho trẻ em trai như vậy, đến 20 tuổi hầu hết công dân thuộc tầng lớp chủ nô đều có năng lực để điều hành và bảo vệ nhà nước chủ nô Aten. Các nhà tư tưởng lớn như Khổng tử, Platon (thời cổ đại), đã đề ra tư tưởng giáo dục bình đẳng – dân chủ. Khổng tử đánh giá rất cao vai trò của giáo dục, theo ông giáo dục là một thành tố không thể thiếu được của mỗi người dân, mỗi dân tộc.
Dân tộc ngu dốt không thể mạnh được. Khổng tử cho rằng “ngọc bất trác bất thành khí, nhân bất học bất tri đạo” (nghĩa là viên ngọc không rửa không thành đồ dùng; người không học không thể biết đạo được). Chính vì vậy, ông chủ trương “Hữu giáo vô loại ” (mọi người đều được giáo dục). Platon đề ra tư tưởng “Bình đẳng giới trong giáo dục”, “giáo dục cưỡng bức cho tất cả mọi người ”, trước 7 tuổi trẻ em nhận sự giáo dục của gia đình, từ 7 đến 35 tuổi học ở trường và nghiên cứu ở các mức độ từ thấp đến cao.
Tuy nhiên, do hạn chế của lịch sử, bình đẳng giáo dục chỉ dành cho tầng lớp trên, không tính đến tầng lớp nô lệ, thợ thủ công hay thương nhân. Mặc dù còn có những hạn chế nhưng Platon được coi là người đặt nền móng cho tư tưởng giáo dục bắt buộc. 1 Lịch sử Giáo dục thế giới (tái bản lần thứ 1), NXB Giáo dục, 1998 7 Tư tưởng về PCGD và giáo dục bắt buộc tiếp tục được các nhà tư tưởng, nhà khoa học, chuyên gia giáo dục … nghiên cứu và phát triển theo tiến trình của lịch sử: Thời kỳ Phục hưng là Thomas More (1478-1535), với tư tưởng giáo dục phổ cập, không phân biệt nam nữ, giáo dục bình đẳng cho mọi người. Đầu thế kỷ XIX nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng Owen đánh giá rất cao vai trò của giáo dục (giáo dục cần thiết và bình đẳng cho mọi người); giáo dục suốt đời từ trẻ em đến người lớn.
Từ giữa thế kỷ XX đến nay nhiều nước trên thế giới đã quan tâm và tập trung thực hiện phổ cập giáo dục, xóa mù chữ. Năm 1918 Nhà nước Xô Viết xác định 8 phương hướng có tính nguyên tắc để xây dựng nền giáo dục Xô Viết, trong đó có “Thực hiện việc miễn phí và phổ cập giáo dục, phổ thông trung học, tiến hành giáo dục kỹ thuật tổng hợp làm quen với lý luận và thực tiễn của các ngành sản xuất chủ yếu của xã hội, tiến hành giáo dục trẻ đến hết 17 tuổi”, nhiệm vụ chung trong thời kỳ này là “ Phổ cập giáo dục tiểu học cho trẻ em đến 15 tuổi, thủ tiêu nạn mù chữ”. Đến năm học 1944-1945 về căn bản hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học. Nhật Bản là nước coi trọng giáo dục và xác định phát triển giáo dục là nền tảng để phát triển kinh tế, xã hội.
Trong hệ thống giáo dục Nhật Bản trường phổ thông 9 năm bắt buộc, trong đó 6 năm tiểu học, 3 năm trung học bậc thấp. Trong 9 năm học đầu, 99,9% trẻ em được thu hút vào các trường công và trường tư, trong đó trường công chiếm 70%. Tỷ lệ học lên trung học bậc cao khoảng 94%. Nước Mỹ, tỷ lệ những người trong độ tuổi đại học từ 56% năm 1970, năm 1987 đã có 82% trong độ tuổi đã tốt nghiệp đại học hoặc cao đẳng.
Các nước trong liên minh châu Âu rất quan tâm đến phát triển giáo dục, đều coi giáo dục như là một nhân tố phát triển kinh tế xã hội. Hệ thống giáo dục các nước châu Âu đều cấu tạo gồm các cấp học: Mẫu giáo, tiểu học, trung học, đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp. Giáo dục phổ cập được quy định từ 5 đến 16 tuổi. Trung Quốc sau khi cách mạng thắng lợi (1949), Trung Quốc có 85% dân số mù chữ nhưng đến năm 1996 Trung Quốc đã đạt tới 98,81% trẻ 6 tuổi đi học, và 8 92,65% trẻ vào lớp 1 tốt nghiệp tiểu học (lớp 6) được học tiếp phổ thông cơ sở và một số trường nghề; 90% trẻ em ở độ tuổi 6 - 12 tuổi đã được thực hiện phổ cập tiểu học.
Hàn Quốc, hệ thống giáo dục là 6-3-3-4 (6 năm cấp I, 3 năm cấp II, 3 năm cấp III và 4 năm đại học hoặc cao đẳng). Riêng giáo dục cấp I, theo hiến pháp Hàn quốc được miễn phí và bắt buộc. Thái Lan, năm 1990 đã căn bản xóa xong nạn mù chữ (93,3% dân số), đã phổ cập giáo dục tiểu học. Với sự quan tâm, đầu tư cho giáo dục, Liên Xô thực hiện phổ cập phổ thông trung học từ những năm 1970, Mỹ phổ cập đại học năm 1987, Nhật Bản, Trung Quốc đã hoàn thành PCGDTH và PCGDTHCS vào năm 1996 và với sự đầu tư cho giáo dục đó đã mang lại cho đất nước một nền kinh tế phát triển như Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc.
Vì vậy để thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội của đất nước thì phải tăng cường đầu tư cho giáo dục và thực hiện tốt việc xóa mù chữ, phổ cập giáo dục các cấp học. Ở Việt Nam Nền giáo dục nước ta trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, trong giai đoạn lịch sử nào cũng cho thấy dân tộc ta có truyền thống hiếu học. Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm chăm lo cho sự nghiệp giáo dục và coi giáo dục là quốc sách hàng đầu. Ngày 03/9/1945, trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính Phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra sáu nhiệm vụ cấp bách giải quyết, trong đó việc chống mù chữ được xếp thứ hai sau việc chống nạn đói.
Đồng thời cũng trong tháng 9/1945 Chính phủ ban hành Sắc lệnh thành lập Bình dân học vụ trong toàn nước Việt Nam. Ngày 04/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi “Muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm cho dân mạnh, nước giàu, mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ”. Qua lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cùng với tinh thần hiếu học của nhân dân ta đã hưởng ứng mạnh mẽ quyết tâm học tập biết chữ, nâng cao trình độ quét sạch nạn mù chữ trên khắp mọi miền đất nước mà bọn xâm lược đã để lại. Chỉ một năm sau đất nước ta đã có 2,5 triệu người biết đọc, biết viết trên 20 triệu dân lúc bấy giờ.
9 Đến ngày 11/6/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc lời kêu gọi thi đua ái quốc trước quốc dân, đồng bào. Người đã chỉ rõ “Mục đích của thi đua ái quốc là diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm”. Tháng 7/1954, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, thì trên mặt trận diệt giặc dốt của cả nước đã đạt thành tích to lớn, hơn 10 triệu người đã được công nhận biết chữ. Công cuộc chống mù chữ được gắn với các nhiệm vụ của cách mạng trong giai đoạn lịch sử mới và lần đầu tiên được ghi vào kế hoạch Nhà nước.
Kế hoạch 3 năm CMC được phát động từ năm 1956 - 1958, ban lãnh đạo Trung ương thanh toán nạn mù chữ được thành lập để chỉ đạo phong trào. Cuối năm 1958, các tỉnh, thành phố vùng đồng bằng và trung du miền Bắc đã hoàn thành việc XMC cho nhân dân từ 12 - 50 tuổi. Ngày 28/3/1978, Đại hội mừng công chống mù chữ ở các tỉnh Miền nam, đồng thời cũng là Đại hội mừng công đánh dấu một giai đoạn lịch sử nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoàn thành cơ bản việc chống nạn mù chữ. Ngày 02 tháng 01 năm 1990 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Chỉ thị số 01-HĐBT về công tác xóa nạn mù chữ.
Chỉ thị đề ra mục tiêu phấn đấu hoàn thành về cơ bản nạn xóa mù chữ trong cả nước trước năm 2000. Việc xóa nạn mù chữ phải được tiến hành đồng thời với việc phổ cập giáo dục cấp I cho trẻ em và tổ chức các công tác giáo dục bổ túc sau xóa mù chữ nhằm ngăn ngừa khả năng mù chữ trở lại. Luật Phổ cập giáo dục tiểu học được Quốc hội khóa VIII, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 12/8/1991. Năm 1998 Quốc hội ban hành Luật Giáo dục trong đó có quy định về phổ cập giáo dục.
Năm 2005 Quốc hội ban hành Luật Giáo dục thay thế Luật Giáo dục năm 1998 quy định “Giáo dục tiểu học và giáo dục trung học cơ sở là các cấp học phổ cập. Nhà nước quyết định kế hoạch phổ cập giáo dục, bảo đảm các điều kiện để thực hiện phổ cập giáo dục trong cả nước”. Năm 2009 Quốc hội ban hành Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, trong đó có quy định thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi. Bên cạnh hệ thống Luật quy định về xóa mù chữ, phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập giáo dục THCS thì Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng hướng dẫn thực hiện Phổ cập bậc Trung học (trung học phổ thông, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề).