Luận văn Quản lý văn hóa: Xây dựng đời sống văn hóa ở Pác Nặm, Bắc Kạn

Dưới đây là các meta tags cho bài viết: { "ai_description": "Nghiên cứu luận văn thạc sĩ về quản lý văn hóa xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở huyện Pác Nặm

Chuyên ngành

Quản lý văn hóa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

150
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan luận văn quản lý đời sống văn hóa huyện Pác Nặm

Luận văn nghiên cứu xây dựng đời sống văn hóa cơ sở tại huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn nhằm đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý văn hóa. Đề tài tập trung vào vai trò của hệ thống chính trị, cộng đồng dân cư và các tổ chức đoàn thể trong triển khai phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa. Nội dung bao gồm cơ sở lý luận, phân tích thực trạng giai đoạn 2003-2015, phương hướng giải pháp và khuyến nghị chính sách. Nghiên cứu kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đời sống mới, Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về phát triển văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Kết quả nghiên cứu cung cấp luận cứ khoa học cho công tác quản lý văn hóa địa phương.

1.1. Khái niệm và vai trò đời sống văn hóa cơ sở

Đời sống văn hóa cơ sở là hoạt động văn hóa diễn ra tại cộng đồng dân cư, phản ánh trình độ phát triển văn hóa của người dân. Tại Pác Nặm, khái niệm này gắn liền với phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa (TDĐKXDĐSVH), do Đảng và Nhà nước phát động. Vai trò quan trọng thể hiện qua ba khía cạnh: động lực phát triển kinh tế-xã hội, nền tảng tinh thần đoàn kết cộng đồng, và công cụ quản lý xã hội hiệu quả. Các phong trào như gia đình văn hóa, làng bản văn hóa đã góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống người dân, đồng thời tạo môi trường lành mạnh chống các tệ nạn xã hội.

1.2. Đặc điểm huyện Pác Nặm ảnh hưởng đến xây dựng đời sống văn hóa

Huyện Pác Nặm có địa hình núi cao, dân cư thưa thớt chủ yếu là dân tộc Tày, Nùng. Điều kiện tự nhiên khó khăn ảnh hưởng đến giao thông, tiếp cận thông tin, nhưng lại tạo nền tảng văn hóa truyền thống phong phú. Lịch sử hình thành gắn liền với phong trào cách mạng, truyền thống đoàn kết cộng đồng mạnh mẽ. Kinh tế chủ yếu nông nghiệp, tỷ lệ hộ nghèo cao, đòi hỏi giải pháp văn hóa phù hợp. Những đặc điểm này quyết định cách tiếp cận xây dựng đời sống văn hóa tại địa phương.

II. Phân tích thực trạng xây dựng đời sống văn hóa cơ sở huyện Pác Nặm

Nghiên cứu đánh giá quá trình xây dựng đời sống văn hóa cơ sở huyện Pác Nặm từ năm 2003 đến 2015 thông qua ba giai đoạn phát triển. Giai đoạn đầu (2003-2008) tập trung tuyên truyền vận động, thành lập các mô hình điểm. Giai đoạn hai (2009-2012) đẩy mạnh phong trào gia đình văn hóa, làng bản văn hóa với tiêu chí cụ thể. Giai đoạn ba (2013-2015) chú trọng quản lý hoạt động văn hóa, thể dục thể thao, thư viện cộng đồng. Kết quả đạt được: 70% hộ gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hóa, 90% làng bản đăng ký xây dựng văn hóa. Tuy nhiên, vẫn tồn tại hạn chế về nhận thức, nguồn lực đầu tư, sự tham gia chưa đồng đều giữa các dân tộc.

2.1. Kết quả đạt được trong phong trào xây dựng văn hóa cơ sở

Huyện Pác Nặm đã tổ chức thành công 15 đợt thi đua xây dựng gia đình văn hóa, 8 cuộc vận động xây dựng làng bản văn hóa. Có 2.890 hộ gia đình được công nhận gia đình văn hóa, chiếm 72% tổng số hộ. 34/36 làng bản đăng ký tham gia phong trào, trong đó 22 làng bản đạt tiêu chuẩn làng văn hóa. Hoạt động văn hóa, thể dục thể thao được duy trì thường xuyên tại 100% thôn bản. Đài Phát thanh huyện đã sản xuất 289 tin bài, 176 phóng sự tuyên truyền về các gương điển hình tiên tiến. Những kết quả này góp phần nâng cao đời sống tinh thần, giảm tệ nạn xã hội trên địa bàn.

2.2. Hạn chế và nguyên nhân tồn tại trong quản lý văn hóa

Mặc dù đạt nhiều kết quả, công tác xây dựng đời sống văn hóa vẫn đối mặt với thách thức về nhận thức chưa đầy đủ, đặc biệt tại vùng sâu vùng xa. Nguồn lực tài chính hạn chế khiến hoạt động văn hóa thiếu bền vững. Cơ chế phối hợp giữa các ngành, đoàn thể chưa chặt chẽ dẫn đến chồng chéo trong triển khai. Sự tham gia chưa đồng đều giữa các dân tộc, tình trạng di cư lao động làm giảm lực lượng lao động tham gia phong trào. Bên cạnh đó, công tác đánh giá, kiểm tra chưa thường xuyên, thiếu chế tài xử lý đối với cá nhân, tập thể vi phạm tiêu chuẩn văn hóa.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đời sống văn hóa huyện Pác Nặm

Để nâng cao hiệu quả quản lý đời sống văn hóa, huyện Pác Nặm cần triển khai đồng bộ bốn nhóm giải pháp: lãnh đạo quản lý, nhận thức giáo dục, phát triển kinh tế-xã hội, và đầu tư nguồn lực. Trọng tâm là nâng cao năng lực cán bộ quản lý văn hóa, đổi mới phương pháp tuyên truyền phù hợp với đặc điểm dân tộc. Giải pháp kinh tế bao gồm phát triển du lịch văn hóa, sản xuất hàng hóa từ làng nghề truyền thống. Đầu tư cơ sở vật chất văn hóa tại thôn bản, xây dựng đội ngũ nghệ nhân, tuyên truyền viên cộng đồng. Đặc biệt chú trọng giáo dục văn hóa trong trường học, gia đình, cộng đồng dân cư.

3.1. Giải pháp về lãnh đạo quản lý và tổ chức thực hiện

Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng ủy huyện, UBND huyện trong xây dựng đời sống văn hóa. Thành lập ban chỉ đạo phong trào cấp huyện, xã có sự tham gia của MTTQ, đoàn thể. Ban hành quy chế phối hợp giữa các ngành: Văn hóa, Giáo dục, Y tế, Công an. Xây dựng kế hoạch 5 năm và hàng năm cụ thể, có phân công trách nhiệm rõ ràng. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, giám sát phong trào. Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá định kỳ, biểu dương khen thưởng kịp thời các tập thể, cá nhân tiêu biểu.

3.2. Giải pháp phát triển kinh tế xã hội gắn với xây dựng văn hóa

Phát triển kinh tế gắn liền với bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống. Khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống như dệt thổ cẩm, đan lát. Xây dựng mô hình du lịch cộng đồng tại các làng văn hóa. Hỗ trợ sản xuất nông sản sạch theo tiêu chuẩn hữu cơ, gắn với bảo vệ môi trường. Đẩy mạnh giáo dục nghề nghiệp, chuyển đổi cơ cấu lao động phù hợp. Phát triển hạ tầng giao thông, điện, viễn thông đến vùng sâu vùng xa để nâng cao chất lượng cuộc sống, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động văn hóa.

IV. Kết luận và khuyến nghị cho quản lý đời sống văn hóa huyện Pác Nặm

Nghiên cứu đã làm rõ vai trò quan trọng của xây dựng đời sống văn hóa cơ sở trong phát triển kinh tế-xã hội huyện Pác Nặm. Thực trạng đạt được những kết quả đáng khích lệ nhưng vẫn còn nhiều tồn tại cần khắc phục. Giải pháp đề xuất tập trung vào nâng cao năng lực quản lý, đổi mới phương thức tuyên truyền, phát triển kinh tế gắn với bảo tồn văn hóa. Kết luận nhấn mạnh tầm quan trọng của sự phối hợp giữa chính quyền, đoàn thể và cộng đồng dân cư. Đề tài cung cấp luận cứ khoa học cho việc xây dựng kế hoạch hành động giai đoạn 2016-2020, góp phần hiện thực hóa mục tiêu xây dựng huyện Pác Nặm trở thành huyện văn hóa vào năm 2020.

4.1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu và đóng góp khoa học

Nghiên cứu đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về xây dựng đời sống văn hóa cơ sở trong quản lý văn hóa địa phương. Phân tích thực trạng huyện Pác Nặm giai đoạn 2003-2015, chỉ ra những thành công và hạn chế. Đề xuất bốn nhóm giải pháp thiết thực, khả thi, phù hợp với điều kiện địa phương. Đóng góp quan trọng nhất là xây dựng khung lý thuyết quản lý đời sống văn hóa cho huyện miền núi, dân tộc thiểu số. Kết quả nghiên cứu có thể nhân rộng cho các huyện có điều kiện tương tự tại tỉnh Bắc Kạn và khu vực trung du miền núi phía Bắc.

4.2. Định hướng nghiên cứu và ứng dụng trong thực tiễn

Trong giai đoạn mới, cần tiếp tục nghiên cứu đánh giá tác động của xây dựng đời sống văn hóa đến phát triển kinh tế-xã hội. Mở rộng nghiên cứu so sánh giữa các huyện trong tỉnh Bắc Kạn để rút ra bài học kinh nghiệm. Ứng dụng công nghệ số trong quản lý phong trào văn hóa, xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý hộ gia đình văn hóa. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo tồn văn hóa dân tộc. Đặc biệt chú trọng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho công tác quản lý văn hóa tại địa phương.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

20/05/2026
Luận văn thạc sĩ quản lý văn hóa xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở huyện pác nặm tỉnh bắc kạn

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CƠ SỞ Ở HUYỆN PÁC NẶM, TỈNH BẮC KẠN 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm văn hoá và đời sống văn hóa Đời sống văn hoá có liên quan chặt chẽ, phản ánh biểu hiện tập trung nhất các mặt của quá trình văn hoá, từ hoạt động sáng tạo, hưởng thụ, đến quan niệm giá trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo.v… Như vậy, muốn hiểu rõ khái niệm đời sống văn hoá, trước hết cần phải làm rõ văn hóa là gì? 1. Khái niệm văn hóa “Văn hóa” là một danh từ được sử dụng khá rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng, song là một từ ngữ có nhiều cách hiểu khác nhau, đôi khi chúng được đồng nhất hóa với trình độ học vấn, cách thức ứng xử, lối sống, sinh hoạt tập thể.

ở đây là một khái niệm cơ bản của ngành văn hóa học, nên cần phải giải thích chúng dưới góc độ thuật ngữ khoa học. Cùng với sự phát triển của các nhà khoa học mà khái niệm “văn hóa” cũng dần dần biểu hiện, hoàn thiện về hàm nghĩa, trở thành một thuật ngữ thường dùng của các nhà khoa học. Văn hóa được biểu thị như phương thức hoạt động người bao chứa toàn bộ các sản phẩm vật chất và tinh thần của con người cũng như năng lực phát triển của chính bản thân con người. Người ta thường gọi đó là thế giới của con người do con người và vì con người.

Văn hóa là sự phát huy các năng lực bản chất của con người là sự thể hiện đầy đủ nhất chất người, nên văn hóa có mặt trong bất cứ hoạt động nào của con người, dù đó là hoạt động trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội hay cách cư xử, giao tiếp. cho đến cả những suy tư thầm kín nhất. 15 Thuật ngữ văn hóa được dùng khá phổ biến trong đời sống hiện nay song việc hiểu về nó thì mỗi nhà nghiên cứu, mỗi cá nhân lại có cách hiểu không hoàn toàn giống nhau. Trên thế giới có trên 400 định nghĩa về văn hóa.

Điều đó cho ta thấy sự phong phú, đa dạng và phức tạp về khái niệm này. Vào thế kỷ XIX thuật ngữ “văn hoá” được những nhà nhân loại học phương Tây sử dụng như một danh từ chính. Những học giả này cho rằng văn hoá (văn minh) thế giới có thể phân loại ra từ trình độ thấp nhất đến cao nhất, và văn hoá của họ chiếm vị trí cao nhất. Bởi vì họ cho rằng bản chất văn hoá hướng về trí lực và sự vươn lên, sự phát triển tạo thành văn minh, E.

Tylor là đại diện của họ. Theo ông: “Văn hoá là một phức thể bao gồm trí thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, tập quán và mọi khả năng và thói quen mà con người, với tư cách là thành viên xã hội, đạt được” [19, tr. Năm 1988, UNESCO phát động Thập kỷ thế giới phát triển văn hoá (1988-1997), ông Federico Mayor (nguyên Tổng Giám đốc UNESCO) đã đưa ra khái niệm: “Văn hoá là tổng thể sống động của các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành tạo nên hệ thống giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” [53, tr.

Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin. Ở Việt Nam, quan niệm về văn hoá được nhận thức khá cơ bản. Hồ Chí Minh đã đưa ra một quan niệm về văn hoá: "Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống loài người, mới sáng tạo và phát minh ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa 16 học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn mặc ở và các phương thức sử dụng khác. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa.

Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt, cùng với biểu hiện của nó và loài người đã sản sinh ra, nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn"[51, tr. Văn hóa chính là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình (Trần Ngọc Thêm). Văn hoá xuất hiện khi con người tự ý thức về mình và với thế giới xung quanh, văn hoá là không bằng lòng với cái đã có, văn hoá là gợi, là mở. Văn hoá là sự thích ứng, là đi tìm chân trời mới của con người (Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng).

Như vậy, có thể hiểu, "văn hoá là hoạt động sáng tạo của con người trong quá khứ và hiện tại, thể hiện hành vi, trình độ ứng xử đối với môi trường tự nhiên và xã hội, tạo ra những chuẩn mực, những giá trị làm thoả mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của con người nhằm vươn tới cái đẹp chân- thiện - mỹ". Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 của Ban Chấp hành Trung ương (khoá VIII), Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội”. Nghị quyết cũng xác định những bộ phận cơ bản nhất cấu thành nền tảng tinh thần của xã hội là: "tư tưởng, đạo đức, lối sống, phong tục, tập quán, giáo dục- đào tạo và khoa học - công nghệ, văn học nghệ thuật, thông tin đại chúng, giao lưu văn hoá, thể chế và thiết chế văn hoá". Theo các quan niệm trên đây, văn hoá phản ánh và thể hiện một cách tổng quát, sinh động mọi mặt của cuộc sống con người đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại, trải qua bao thế kỷ, nó đã cấu thành một 17 hệ thống các giá trị, các truyền thống, thị hiếu thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình.

Đặc trưng của văn hoá là mang tính nhân sinh, tính lịch sử, tính hệ thống (các kết quả sáng tạo) và tính giá trị. Xây dựng đời sống văn hoá là một trong những hoạt động quan trọng của quá trình văn hoá, trong quá trình đó con người vừa là sản phẩm vừa là chủ thể của mọi sáng tạo. Khái niệm và cấu trúc của đời sống văn hóa Đời sống văn hoá Như trên đã phân tích, khái niệm đời sống liên quan chặt chẽ và là biểu hiện bản chất của văn hoá trong quá trình vận động biến đổi của nó. Ở nước ta, khái niệm “đời sống văn hoá” thường gắn với khái niệm “đời sống văn hóa cơ sở”, khái niệm này được xuất hiện và sử dụng trong ngành văn hoá từ năm 2004.

Tuy nhiên giữa hai khái niệm “đời sống văn hoá” và “đời sống văn hoá cơ sở” cũng có sự phân biệt nhất định. Khái niệm đời sống văn hoá cũng được các nhà nghiên cứu tiếp cận theo nhiều hướng khác nhau. Tác giả Nguyễn Hữu Thức trong cuốn sách "Một số kinh nghiệm quản lý và hoạt động tư tưởng - văn hóa" quan niệm: Đời sống văn hóa được hiểu một cách khái quát là hiện thực sinh động các hoạt động của con người trong môi trường sống để duy trì, đồng thời tái tạo sản phẩm văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần theo những giá trị và chuẩn mực xã hội nhất định nhằm không ngừng tác động, biến đổi tự nhiên, xã hội và đáp ứng nhu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng sống của chính con người [46, tr. Đây là một bước cụ thể nhận thức về đời sống văn hóa, tuy nhiên, quan niệm này đề cập tới phạm vi quá rộng, sẽ khó xác định cho việc triển 18 khai về xây dựng đời sống văn hóa gắn với không gian, lĩnh vực cụ thể.

Theo nghĩa hẹp, có thể nói: Đời sống văn hóa chính là sự hoạt động của các quá trình sản xuất, phân phối, lưu giữ và tiêu thụ những tác phẩm văn hóa (sản phẩm văn hóa). Quá trình này biến các giá trị văn hóa tiềm tàng, thành những giá trị văn hóa hiện thực sao cho những giá trị văn hóa đó đi vào đời sống hàng ngày của mọi người trở thành một bộ phận hợp thành không thể tách rời, một thành tố thiết yêu của đời sống [24, tr. Trong cuốn sách Xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở, báo cáo của Viện Văn hoá Nghệ thuật Việt Nam đã viết: Đời sống văn hoá nói chung là một tổng hợp những yếu tố vật thể văn hóa nằm trong những cảnh quan văn hóa, những yếu tố hoạt động văn hóa của con người, những sự tác động lẫn nhau trong đời sống xã hội để tạo ra những quan hệ có văn hóa trong cộng đồng người, trực tiếp làm hình thành lối sống của con người trong xã hội… [5, tr. Đời sống văn hoá chính là tổng thể sống động các hoạt động văn hoá trong quá trình sáng tạo (sản xuất), bảo quản, phổ biến, tiêu dùng các sản phẩm văn hoá và sự giao lưu văn hoá, nhằm thoả mãn nhu cầu văn hoá của một cộng đồng.

Như vậy, có rất nhiều quan niệm khác nhau về đời sống văn hóa. Để đi đến một quan niệm hoàn chỉnh hơn về đời sống văn hoá, chúng ta phải tiếp cận thêm đời sống văn hoá trong toàn bộ đời sống xã hội và phải khu biệt, giới hạn lĩnh vực sáng tạo văn hoá trên cơ sở xuất phát từ quan niệm văn hoá theo nghĩa rộng hoặc nghĩa hẹp. 19 Trước hết, nói đến đời sống văn hóa là nói đến một bộ phận trong đời sống của con người. Khái niệm "Đời sống" được đưa ra trong Đại từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên là “hoạt động của con người về một lĩnh vực nào đó nói chung” [65, tr.

Còn theo Từ điển bách khoa mở, thì ngoài nghĩa nói trên, "đời sống" còn được hiểu là phương tiện để sống, lối sống của cá nhân hay tập thể (đời sống xa hoa, đời sống cần kiệm…). Đời sống của con người bao gồm rất nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng có liên quan mật thiết với nhau, chẳng hạn như: Đời sống kinh tế, đời sống chính trị, đời sống xã hội, đời sống văn hóa .

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ