Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TRANG THIẾT BỊ Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN 1. Trang thiết bị y tế và quản lý trang thiết bị y tế tại Bệnh viện tuyến tỉnh 1.1 Khái niệm và phân loại trang thiết bị y tế 1. Khái niệm về trang thiết bị y tế Ở mọi thời đại, con người luôn là vốn quý nhất của xã hội, là nhân tố quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia. Thế nên việc chăm sóc sức khỏe cho con người luôn được quan tâm và đặt lên hàng đầu.
Một trong những yếu tố góp phần phòng bệnh, chữa bệnh và bảo vệ sức khỏe của con người đó sự hỗ trợ của các TTBYT. Theo Nghị định số 36/2016/NĐ-CP và được sửa đổi bổ sung tại Nghị định 169/2018/NĐ-CP thì TTBYT được hiểu là các loại thiết bị, dụng cụ, vật liệu, vật tư cấy ghép, thuốc thử và chất hiệu chuẩn in vitro, phần mềm (software) được sử dụng riêng lẻ hay phối hợp với nhau theo chỉ định của chủ sở hữu của các TTBYT để phục vụ cho con người với nhiều mục đích khác nhau. Thứ nhất, TTBYT dùng để chẩn đoán, ngăn ngừa, theo dõi, điều trị và làm giảm nhẹ bệnh tật, bù đắp những tổn thương, chấn thương của con người. Thứ hai, TTBYT dùng để kiểm tra, thay thế, điều chỉnh, hỗ trợ giải phẫu và quá trình sinh lý của con người.
Thứ ba, TTBYT dùng để hỗ trợ hoặc duy trì sự sống của con người. Thứ tư, TTBYT dùng để kiểm soát sự thụ thai của con người. Thứ năm, TTBYT dùng để khử khuẩn các TTBYT, bao gồm cả hóa chất sử dụng trong quy trình xét nghiệm. 7 Thứ sáu, TTBYT dùng để góp phần vận chuyển chuyên dụng hoặc sử dụng phục vụ cho hoạt động y tế.
Thứ bảy, TTBYT cung cấp thông tin hữu ích góp phần chẩn đoán, theo dõi, điều trị thông qua biện pháp kiểm tra các mẫu vật có nguồn gốc từ cơ thể người. Như vậy, TTBYT là những thiết bị được sử dụng cho mục đích y tế. Chúng thường được sử dụng trong các bệnh viện, các trung tâm y tế nhằm hỗ trợ chăm sóc sức khỏe, chẩn đoán và điều trị bệnh cho bệnh nhân, giúp người bệnh hồi phục, cải thiện sức khỏe duy trì sự sống của mình. Phân loại trang thiết bị y tế Hiện nay có nhiều loại TTBYT hiện đại đang được sử dụng để phục vụ cho nhu cầu khám chữa bệnh của con người.
Có nhiều loại TTBYT tiên tiến hiện đại để điều trị những ca bệnh phức tạp đòi hỏi kỹ thuật và trình độ cao. Đặc điểm TTBYT được thể hiện: Là tài sản cố định có giá trị cao. Nó được sản xuất gắn liền với thành tựu của khoa học tiên tiến về khám chữa bệnh. TTBYT tại các bệnh viện tuyến Trung ương thường được hình thành từ nhiều nguồn vốn khác nhau, trong đó có từ ngân sách nhà nước, các loại viện trợ từ các nước trên thế giới như: Mỹ, Hà Lan, Nhật Bản…,quỹ phát triển khoa học và tự các đơn vị mua sắm.
TTBYT tại Việt Nam phần lớn được nhập khẩu từ các nước có nền khoa học tiên tiến, hiện đại, đòi hỏi người sử dụng phải cập nhập, nâng cao trình độ thường xuyên. TTBYT gồm nhiều loại khác nhau: TTBYT cá nhân: sử dụng tại các gia đình (Homecare); Loại TTBYT đơn giản: Là loại TTBYT đơn giản thường sử dụng trong đơn vị y tế nhỏ; Loại TTBYT nghiên cứu. ; Loại TTBYT thuộc cảm biến y sinh. 8 Như vậy, TTBYT là các loại thiết bị, dụng cụ, vật tư y tế, phương tiện vận chuyển chuyên dụng phục vụ cho hoạt động chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân.
Theo WHO hiện nay có khoảng 10.500 chủng loại TTBYT khác nhau trên thị trường. Chúng bao gồm từ các thiết bị chẩn đoán và điều trị có giá trị lớn, công nghệ cao như máy gia tốc tuyến tính giúp điều trị các bệnh ung thư, cộng hưởng từ, chụp cắt lớp… cho đến ống nghe khám bệnh và các trang thiết bị cơ bản khác hỗ trợ cho các bác sỹ, điều dưỡng thực hiện công việc chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân hàng ngày. TTBYT bao gồm cả các thiết bị trợ giúp cải thiện cuộc sống hàng triệu người dân như: xe đẩy, máy trợ thính, kính thuốc, máy điều hòa nhịp tim và các thiết bị cấy ghép. Căn cứ vào nội dung chuyên môn của y học, TTBYT được phân thành 10 nhóm Nhóm I: Thiết bị chẩn đoán hình ảnh bao gồm các thiết bị đặc trưng là: Máy chụp X - Quang các loại, máy chụp cắt lớp điện toán, chụp cộng hưởng từ, chụp mạch số hoá xoá nền, máy chụp cắt lớp positron (PET/CT), máy siêu âm… Nhóm II: Thiết bị chẩn đoán điện tử sinh lý bao gồm các loại máy: Máy điện tâm đồ (ECG), điện não đồ (EEG), điện cơ đồ, máy đo lưu huyết não.
Nhóm III: Thiết bị labo xét nghiệm bao gồm các thiết bị như máy đếm tế bào, máy ly tâm. Nhóm IV: Thiết bị cấp cứu hồi sức, gây mê, phòng mổ bao gồm các thiết bị như máy thở, máy gây mê, máy theo dõi (monitoring), máy tạo nhịp tim, máy sốc tim, dao mổ điện, thiết bị tạo oxy. Nhóm V: Thiết bị vật lý trị liệu như điện phân, điện sóng ngắn, tia hồng ngoại, laser trị liệu. 9 Nhóm VI: Thiết bị quang điện tử y tế như Laser CO2, Laser YAG, Nd, Ho, Laser hơi kim loại, phân tích máu bằng Laser.
Nhóm VII: Thiết bị đo và điều trị chuyên dùng như máy đo công năng phổi, đo thính giác, tán sỏi ngoài cơ thể, gia tốc điều trị ung thư, thiết bị cường nhiệt, máy chạy thận nhân tạo. Nhóm VIII: Các thiết bị từ y tế Phương Đông như máy dò huyệt, massage, châm cứu, điều trị từ phổi. Nhóm IX: Nhóm thiết bị điện tử y tế thông thường dùng ở gia đình như huyết áp kế điện tử, nhiệt kế điện tử , máy chạy khí rung, điện tim. Nhóm X: Nhóm các loại thiết bị thông dụng phục vụ trong các cơ sở y tế như thiết bị thanh tiệt trùng, máy giặt, trung tâm quản lý thông tin (hệ thống máy tính), xe ôtô cứu thương, lò đốt rác thải y tế, khu xử lý nước thải.
Căn cứ vào mức độ rủi ro tiềm ẩn liên quan đến thiết kế kỹ thuật và sản xuất các TTBYT đó, theo Nghị định 169/2018/NĐ-CP, TTBYT gồm 2 nhóm được phân làm 4 loại: Nhóm I: Bao gồm các TTBYT thuộc loại A là TTBYT có mức độ rủi ro thấp. Nhóm II: Bao gồm TTBYT thuộc loại B, C và D, trong đó loại B là TTBYT có mức độ rủi ro trung bình thấp; TTBYT thuộc loại C có mức độ rủi ro trung bình cao và loại D có mức độ rủi ro cao (như: Trang thiết bị cấy ghép vào cơ thể người). Với các trang thiết bị loại C và D sẽ phải qua giai đoạn thử nghiệm lâm sàng (trên người) về tính an toàn trước khi được đưa vào sử dụng chính thức [12]. Căn cứ vào công dụng của TTBYT, theo Thông tư số 08/2019/TT- BYT TTBYT được chia làm hai nhóm: Nhóm I: TTBYT chuyên dùng đặc thù bao gồm: Hệ thống X – quang; 10 Hệ thống CT – Scanner; Siêu âm; Máy xét nghiệm sinh hóa các loại; Máy xét nghiệm miễn dịch các loại; Máy thận nhân tạo; Máy thở; Máy gây mê; Máy theo dõi bệnh nhân; Bơm tiêm điện; Máy truyền dịch; Dao mổ; Máy phá rung tim; Máy tim phổi nhân tạo; Hệ thống phẫu thuật nội soi; Đèn mổ treo trần; Đèn mổ di động; Bàn mổ; Máy điện tim; Máy điện não; Hệ thống khám nội soi; Máy soi cổ tử cung; Máy theo dõi sản khoa 02 chức năng; Thiết bị xạ trị.
Nhóm II: Trang thiết bị y tế chuyên dùng khác [7]. Khái niệm và nguyên tắc quản lý trang thiết bị y tế tại bệnh viện 1. Khái niệm về quản lý trang thiết bị y tế tại bệnh viện Ngày nay, thuật ngữ quản lý đã trở nên phổ biến nó được coi là một hoạt động đặc thù của con người, là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý. Quản lý sẽ xuất hiện ở bất kỳ nơi nào, lúc nào nếu ở nơi đó có hoạt động chung của con người.
Mác: Quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động. Ông cho rằng: Tất cả mọi lao động trong xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung…Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng. Trong từ điển tiếng Việt: Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định. Theo Phạm Quang Lê: Quản lý là sự tác động có chủ đích của các chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý một cách liên tục, có mục đích, liên kết các thành viên trong tổ chức nhằm đạt tới mục tiêu với kết quả tốt nhất [21].
Theo Fayel: Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, 11 doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát. Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy [14]. Theo Hard Koont: Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường tốt giúp con người hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định [14]. Những quan niệm về quản lý ở trên cho thấy quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý thông qua các hoạt động, công cụ, phương pháp, nguyên tắc quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, cơ hội để đạt được mục tiêu đề ra.
Quản lý TTBYT là một hình thức hoạt động của nhà nước do các chủ thể có thẩm quyền thực hiện nhằm hướng tới việc phân phối và sử dụng các TTBYT tiết kiệm và hiệu quả. Quản lý TTBYT tập trung chủ yếu vào các hoạt động: Đầu tư mua sắm TTBYT; Sử dụng TTBYT; Sửa chữa TTBYT; Khấu hao và thanh lý TTBYT; Kiểm tra giám sát và xử lý vi phạm trong tổ chức thực hiện quản lý TTBYT. Cơ sở pháp lý quản lý trang thiết bị y tế tại bệnh viện Nghị định số 36/2016/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý TTBYT, đây là hành lang pháp lý quan trọng cho công tác quản lý TTBYT đáp ứng nhu cầu hiện nay và hội nhập quốc tế, khu vực.