Luận Văn Thạc Sĩ Về Quản Lý Thu Ngân Sách Nhà Nước Tại Kho Bạc Nhà Nước Thái Nguyên

Luận văn thạc sĩ phân tích quản lý thu ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước Thái Nguyên, đánh giá hiệu quả và đề xuất giải pháp cải thiện.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2021

112
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Quản lý ngân sách nhà nước

Quản lý ngân sách nhà nước là quá trình nhà nước sử dụng các công cụ và phương pháp để tập trung nguồn tài chính quốc gia, hình thành quỹ ngân sách nhằm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình. Đây là hoạt động quan trọng trong việc đảm bảo cân đối thu chi, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Kho bạc nhà nước đóng vai trò trung tâm trong quản lý thu ngân sách, đặc biệt là tại địa phương như Thái Nguyên.

1.1 Khái niệm và vai trò

Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định. Thu ngân sách nhà nước bao gồm các khoản tiền nhà nước huy động vào ngân sách mà không bị ràng buộc bởi trách nhiệm hoàn trả trực tiếp. Quản lý thu ngân sách nhà nước là việc nhà nước sử dụng các quy luật khách quan và phương pháp để tập trung tài chính quốc gia, phục vụ các nhu cầu của nhà nước.

1.2 Các khoản thu ngân sách

Các khoản thu ngân sách nhà nước bao gồm thuế, lệ phí, phí, các khoản nộp từ hoạt động kinh tế của nhà nước, tiền sử dụng đất, tiền thu từ bán tài sản nhà nước, và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. Những khoản thu này đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các hoạt động kinh tế - xã hội, đảm bảo công bằng xã hội.

II. Kho bạc nhà nước và quản lý thu ngân sách

Kho bạc nhà nước là cơ quan trực tiếp thực hiện quản lý thu ngân sách nhà nước tại địa phương. Tại Thái Nguyên, Kho bạc nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc huy động và quản lý các khoản thu ngân sách, đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của địa phương.

2.1 Chức năng và nhiệm vụ

Kho bạc nhà nước Thái Nguyên có chức năng tổ chức thu ngân sách, hạch toán, quyết toán, và kiểm tra các khoản thu. Ngoài ra, Kho bạc còn thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến quản lý tài sản nhà nước và hỗ trợ các cơ quan thuế, hải quan trong việc thu ngân sách.

2.2 Thực trạng quản lý thu ngân sách

Thực trạng quản lý thu ngân sách tại Kho bạc nhà nước Thái Nguyên trong giai đoạn 2017-2019 cho thấy những thành tựu đáng kể, nhưng cũng tồn tại nhiều hạn chế. Tỷ trọng ngân sách nộp vào nhà nước chưa cao, quản lý thu còn thiếu thống nhất, và chưa khai thác tốt các thành tựu công nghệ thông tin.

III. Giải pháp tăng cường quản lý thu ngân sách

Để tăng cường hiệu quả quản lý thu ngân sách nhà nước qua Kho bạc nhà nước Thái Nguyên, cần thực hiện các giải pháp đồng bộ, từ cải cách chính sách tài chính đến nâng cao năng lực quản lý của cán bộ.

3.1 Cải cách chính sách tài chính

Cần hoàn thiện hệ thống chính sách tài chính, đặc biệt là các quy định về thuế, phí, lệ phí để đảm bảo tính minh bạch và công bằng. Đồng thời, cần tăng cường kiểm tra, thanh tra các khoản thu để chống thất thu ngân sách.

3.2 Nâng cao năng lực quản lý

Đào tạo và nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý thu ngân sách tại Kho bạc nhà nước Thái Nguyên là yếu tố then chốt. Cần ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý thu ngân sách để tăng hiệu quả và giảm thiểu sai sót.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý thu ngân sách nhà nước qua kho bạc nhà nước thái nguyên

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC 1. Cơ sở lý luận về quản lý thu NSNN 1.Khái niệm, vai trò quản lý thu NSNN 1. Khái niệm quản lý thu NSNN Để tìm hiểu khái niệm quản lý thu ngân sách nhà nước, trước tiên cần tìm hiểu khái niệm về ngân sách nhà nước và thu ngân sách nhà nước. Theo Luật NSNN số 83/2015/QH13, có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2017, cho rằng: “Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”.

Khoảng thời gian nhất định ở trên được gọi là Năm ngân sách. Năm ngân sách ở tất cả các nước đều có thời hạn bằng một năm dương lịch. Phần lớn các quốc gia, năm ngân sách trùng với năm dương lịch (từ 01/01 kết thúc vào 31/12) như: Việt Nam, Pháp, Bỉ, Hà Lan… Tuy nhiên ở một số quốc gia, năm ngân sách có thời điểm bắt đầu và kết thúc không trùng với năm dương lịch như: Anh, Nhật Bản, Đức… có năm ngân sách bắt đầu từ ngày 1/4 năm trước đến ngày 31/3 năm sau; Canađa, Thụy Điển, Nauy, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha. năm ngân sách bắt đầu từ ngày 1/7 năm trước và kết thúc vào ngày 30/6 năm sau.

Theo giáo trình “Lý thuyết tài chính tiền tệ”- PGS.TS Nguyễn Hữu Tài Trường Đại học Kinh tế quốc dân - Nhà xuất bản Thống Kê năm 2008 đưa khái niệm về thu ngân sách Nhà nước như sau: “Thu ngân sách Nhà nước là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ ngân sách nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu của Nhà nước”. Thu NSNN bao gồm những khoản tiền Nhà nước huy động vào NSNN mà không bị ràng buộc bởi trách nhiệm hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp. Phần lớn các khoản thu NSNN đều mang tính chất cưỡng bức, bắt buộc mọi người dân, mọi thành phần kinh tế phải tuân thủ thực hiện. 5 Nội dung thu NSNN được quy định tại Điều 2, Nghị định 163/2016/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2016 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật NSNN số 83/2015/QH13, bao gồm: (1) Thuế do các tổ chức, cá nhân nộp theo quy định của các luật thuế.

(2) Lệ phí do các tổ chức, cá nhân nộp theo quy định của pháp luật. (3) Phí thu từ các hoạt động dịch vụ do cơ quan nhà nước thực hiện; trường hợp được khoán chi phí hoạt động thì được khấu trừ. (4) Phí thu từ các hoạt động dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nước thực hiện, sau khi trừ phần được trích lại để bù đắp chi phí theo quy định của pháp luật. (5) Các khoản nộp ngân sách nhà nước từ hoạt động kinh tế của Nhà nước, gồm: - Lãi được chia cho nước chủ nhà và các khoản thu khác từ hoạt động thăm dò, khai thác dầu, khí; - Các khoản thu hồi vốn của Nhà nước đầu tư tại các tổ chức kinh tế; - Thu cổ tức, lợi nhuận được chia tại các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có vốn góp của Nhà nước; - Thu phần lợi nhuận sau thuế còn lại sau khi trích lập các quỹ của doanh nghiệp nhà nước; - Chênh lệch thu lớn hơn chi của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; - Thu hồi tiền cho vay của Nhà nước (bao gồm cả gốc và lãi), trừ vay lại vốn vay nước ngoài của Chính phủ.

(6) Huy động đóng góp từ các cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật. (7) Thu từ bán tài sản nhà nước, kể cả thu từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất do các cơ quan, đơn vị, tổ chức của Nhà nước quản lý. (8) Tiền sử dụng đất; tiền cho thuê đất, thuê mặt nước; tiền sử dụng khu vực biển; tiền cho thuê và tiền bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước. (9) Thu từ tài sản được xác lập quyền sở hữu của Nhà nước; thu cấp quyền khai thác khoáng sản, thu cấp quyền khai thác tài nguyên nước.

6 (10) Tiền thu từ xử phạt vi phạm hành chính, phạt, tịch thu khác theo quy định của pháp luật. (11) Các khoản đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. (12) Các khoản viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân ở ngoài nước cho Nhà nước, Chính phủ Việt Nam, cho cơ quan nhà nước ở địa phương. (13) Thu từ quỹ dự trữ tài chính theo quy định tại Điều 11 Luật ngân sách nhà nước.

(14) Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. Vì liên quan đến sự vận hành nền kinh tế của đất nước cũng như sự phát triển của xã hội nên thu ngân sách nhà nước nắm giữ vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi quốc gia, cụ thể: + Thu NSNN giúp huy động các nguồn tài chính nhằm đảm bảo việc chi tiêu của Nhà nước, như phục vụ cho bộ máy quản lý của Nhà nước và đảm bảo cho việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội do Nhà nước đề ra. Xã hội muốn phát triển đòi hỏi chi ngân sách mở cả về chiều rộng và chiều sâu do vậy thu NSNN có hiệu quả sẽ góp phần cân đối thu chi, đảm bảo cho xã hội phát triển. Đây là vai trò không thể thiếu được của thu NSNN ở bất cứ một quốc gia nào.

+ Thu NSNN có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các hoạt động kinh tế - xã hội, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường. Nhà nước sử dụng các khoản thu NSNN (chủ yếu là thuế) để điều hòa lưu thông tiền tệ, bình ổn giá cả, giảm lạm phát, thực hiện phân phối thu nhập nhằm đảm bảo công bằng xã hội. Với vai trò quan trọng trên, để đảm bảo việc thu NSNN được hiệu quả, nhà nước cần có những công cụ, những biện pháp thích hợp để tác động vào NSNN nhằm đạt được mục tiêu nhất định về thu NSNN. Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý bằng hệ thống các phương pháp nhằm thay đổi trạng thái của đối tượng quản lý, tiếp cận đến mục tiêu cuối cùng, phục vụ cho mục đích của con người.

Với ý nghĩa như vậy, có thể khái quát “Quản lý thu ngân sách nhà nước chính là việc nhà nước vận 7 dụng các quy luật khách quan, sử dụng hệ thống các phương pháp và dùng quyền lực của mình để tập trung một phần tài chính quốc gia hình thành quỹ NSNN nhằm thỏa mãn các nhu cầu của nhà nước, phục vụ cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước.” Bản chất của công tác quản lý thu ngân sách chính là việc quản lý thu thuế và các khoản thu ngoài thuế vào NSNN, thông qua việc sử dụng các công cụ chính sách quản lý theo quy định của Pháp luật. Đối tượng quản lý thu NSNN hướng tới là tất cả người dân trong xã hội, tất cả các đơn vị, tổ chức kinh tế như: các doanh nghiệp nhà nước, các đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài…mà có phát sinh nghĩa vụ nộp thu NSNN. Các khoản thu NSNN là khoản thu về thuế; phí, lệ phí và các khoản thu khác. Vai trò của quản lý thu NSNN Quản lý thu NSNN có vai trò rất quan trọng, thể hiện ở những khía cạnh: Thứ nhất, quản lý thu NSNN là công cụ quản lý của Nhà nước để kiểm soát, điều tiết các hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) của mọi thành phần kinh tế, kiểm soát thu nhập của mọi tầng lớp dân cư trong xã hội nhằm động viên sự đóng góp nhưng vẫn đảm bảo công bằng, hợp lý.

Thứ hai, quản lý thu NSNN là công cụ động viên, huy động các nguồn lực tài chính cần thiết để tạo lập quỹ tiền tệ tập trung của NSNN. Huy động các nguồn tài chính cần thiết vào nhà nước là nhiệm vụ chủ yếu của hệ thống thu dưới bất kỳ chế độ nào, đó là đòi hỏi tất yếu của mọi nhà nước. Nhà nước muốn thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình tất yếu phải có nguồn tài chính. Để có nguồn tài chính ổn định cho đất nước, Nhà nước cần thực hiện quản lý tốt nguồn thu ngân sách.

Thứ ba, quản lý thu NSNN nhằm khai thác, phát hiện, tính toán chính xác các nguồn tài chính của đất nước để có thể động viên vào NSNN, đồng thời không ngừng hoàn thiện các chính sách, các chế độ thu, có cơ chế tổ chức quản lý hợp lý. Thứ tư, quản lý thu ngân sách góp phần tạo môi trường bình đẳng, công bằng giữa các thành phần kinh tế, giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước trong quá trình SXKD. Với hình thức thu và mức thu thích hợp kèm với các chế độ miễn giảm 8 công bằng, thu NSNN có tác động trực tiếp đến quá trình SXKD của cơ sở. Với sự tác động quản lý thu ngân sách sẽ góp phần tạo nên môi trường kinh tế thuận lợi đối với quá trình SXKD, đồng thời là công cụ quan trọng thực hiện chức năng kiểm tra, kiểm soát của Nhà nước đối với toàn bộ hoạt động SXKD của xã hội.Hoạt động quản lý thu NSNN qua Kho bạc Nhà nước 1.

Sự ra đời và phát triển của KBNN Việt Nam Sự ra đời và phát triển của KBNN gắn liền với quá trình hình thành xây dựng và phát triển đất nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng – Nhà nước, chức năng nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của KBNN cũng dần được thay đổi cho phù hợp với nhiệm vụ chính trị của từng thời kỳ. Trong thời kỳ chống Pháp, KBNN đã được hình thành với tên gọi là Ngân khố Đông Dương trực thuộc phủ toàn quyền Đông Dương. Sau cách mạng Tháng Tám thành công năm 1945, Tổng Nha ngân khố quốc gia trực thuộc Bộ Tài chính được thành lập theo sắc lệnh số 45/TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Nhiệm vụ chủ yếu của Nha Ngân khố là: Quản lý, giám sát các khoản thu về thuế, các khoản cấp phát theo dự toán. Tổ chức phát hành giấy bạc Việt Nam, thực hiện các nguyên tắc cơ bản về thể lệ thu, chi, quyết toán. Ngày 6-5-1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam (nay là Ngân hàng nhà nước Việt Nam) qua đó giải thể Nha Ngân khố.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận Văn Thạc Sĩ: Quản Lý Thu Ngân Sách Nhà Nước Qua Kho Bạc Nhà Nước Thái Nguyên là một nghiên cứu chuyên sâu về công tác quản lý thu ngân sách nhà nước tại địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Tài liệu này tập trung phân tích các cơ chế, quy trình và thách thức trong việc thu ngân sách, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho các nhà quản lý, nghiên cứu sinh và những ai quan tâm đến lĩnh vực tài chính công.

Để mở rộng kiến thức về quản lý thu ngân sách, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế biện pháp tăng cường quản lý thu ngân sách nhà nước huyện an dương thành phố hải phòng, nghiên cứu này cung cấp góc nhìn chi tiết về các biện pháp cải thiện hiệu quả thu ngân sách tại địa phương. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế quản lý ngân sách nhà nước tại huyện si ma cai tỉnh lào cai cũng là một tài liệu đáng đọc, giúp bạn hiểu rõ hơn về quản lý ngân sách trong bối cảnh đặc thù của các địa bàn miền núi. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ các nhân tố tác động thâm hụt ngân sách nhà nước tại việt nam 2002 2012 sẽ mang đến cái nhìn tổng quan về các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình ngân sách quốc gia.

Mỗi tài liệu trên là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về chủ đề quản lý ngân sách, từ đó nâng cao hiểu biết và kỹ năng trong lĩnh vực này.