Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC 1. Cơ sở lý luận về quản lý thu NSNN 1.Khái niệm, vai trò quản lý thu NSNN 1. Khái niệm quản lý thu NSNN Để tìm hiểu khái niệm quản lý thu ngân sách nhà nước, trước tiên cần tìm hiểu khái niệm về ngân sách nhà nước và thu ngân sách nhà nước. Theo Luật NSNN số 83/2015/QH13, có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2017, cho rằng: “Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”.
Khoảng thời gian nhất định ở trên được gọi là Năm ngân sách. Năm ngân sách ở tất cả các nước đều có thời hạn bằng một năm dương lịch. Phần lớn các quốc gia, năm ngân sách trùng với năm dương lịch (từ 01/01 kết thúc vào 31/12) như: Việt Nam, Pháp, Bỉ, Hà Lan… Tuy nhiên ở một số quốc gia, năm ngân sách có thời điểm bắt đầu và kết thúc không trùng với năm dương lịch như: Anh, Nhật Bản, Đức… có năm ngân sách bắt đầu từ ngày 1/4 năm trước đến ngày 31/3 năm sau; Canađa, Thụy Điển, Nauy, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha. năm ngân sách bắt đầu từ ngày 1/7 năm trước và kết thúc vào ngày 30/6 năm sau.
Theo giáo trình “Lý thuyết tài chính tiền tệ”- PGS.TS Nguyễn Hữu Tài Trường Đại học Kinh tế quốc dân - Nhà xuất bản Thống Kê năm 2008 đưa khái niệm về thu ngân sách Nhà nước như sau: “Thu ngân sách Nhà nước là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ ngân sách nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu của Nhà nước”. Thu NSNN bao gồm những khoản tiền Nhà nước huy động vào NSNN mà không bị ràng buộc bởi trách nhiệm hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp. Phần lớn các khoản thu NSNN đều mang tính chất cưỡng bức, bắt buộc mọi người dân, mọi thành phần kinh tế phải tuân thủ thực hiện. 5 Nội dung thu NSNN được quy định tại Điều 2, Nghị định 163/2016/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2016 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật NSNN số 83/2015/QH13, bao gồm: (1) Thuế do các tổ chức, cá nhân nộp theo quy định của các luật thuế.
(2) Lệ phí do các tổ chức, cá nhân nộp theo quy định của pháp luật. (3) Phí thu từ các hoạt động dịch vụ do cơ quan nhà nước thực hiện; trường hợp được khoán chi phí hoạt động thì được khấu trừ. (4) Phí thu từ các hoạt động dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nước thực hiện, sau khi trừ phần được trích lại để bù đắp chi phí theo quy định của pháp luật. (5) Các khoản nộp ngân sách nhà nước từ hoạt động kinh tế của Nhà nước, gồm: - Lãi được chia cho nước chủ nhà và các khoản thu khác từ hoạt động thăm dò, khai thác dầu, khí; - Các khoản thu hồi vốn của Nhà nước đầu tư tại các tổ chức kinh tế; - Thu cổ tức, lợi nhuận được chia tại các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có vốn góp của Nhà nước; - Thu phần lợi nhuận sau thuế còn lại sau khi trích lập các quỹ của doanh nghiệp nhà nước; - Chênh lệch thu lớn hơn chi của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; - Thu hồi tiền cho vay của Nhà nước (bao gồm cả gốc và lãi), trừ vay lại vốn vay nước ngoài của Chính phủ.
(6) Huy động đóng góp từ các cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật. (7) Thu từ bán tài sản nhà nước, kể cả thu từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất do các cơ quan, đơn vị, tổ chức của Nhà nước quản lý. (8) Tiền sử dụng đất; tiền cho thuê đất, thuê mặt nước; tiền sử dụng khu vực biển; tiền cho thuê và tiền bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước. (9) Thu từ tài sản được xác lập quyền sở hữu của Nhà nước; thu cấp quyền khai thác khoáng sản, thu cấp quyền khai thác tài nguyên nước.
6 (10) Tiền thu từ xử phạt vi phạm hành chính, phạt, tịch thu khác theo quy định của pháp luật. (11) Các khoản đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. (12) Các khoản viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân ở ngoài nước cho Nhà nước, Chính phủ Việt Nam, cho cơ quan nhà nước ở địa phương. (13) Thu từ quỹ dự trữ tài chính theo quy định tại Điều 11 Luật ngân sách nhà nước.
(14) Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. Vì liên quan đến sự vận hành nền kinh tế của đất nước cũng như sự phát triển của xã hội nên thu ngân sách nhà nước nắm giữ vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi quốc gia, cụ thể: + Thu NSNN giúp huy động các nguồn tài chính nhằm đảm bảo việc chi tiêu của Nhà nước, như phục vụ cho bộ máy quản lý của Nhà nước và đảm bảo cho việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội do Nhà nước đề ra. Xã hội muốn phát triển đòi hỏi chi ngân sách mở cả về chiều rộng và chiều sâu do vậy thu NSNN có hiệu quả sẽ góp phần cân đối thu chi, đảm bảo cho xã hội phát triển. Đây là vai trò không thể thiếu được của thu NSNN ở bất cứ một quốc gia nào.
+ Thu NSNN có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các hoạt động kinh tế - xã hội, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường. Nhà nước sử dụng các khoản thu NSNN (chủ yếu là thuế) để điều hòa lưu thông tiền tệ, bình ổn giá cả, giảm lạm phát, thực hiện phân phối thu nhập nhằm đảm bảo công bằng xã hội. Với vai trò quan trọng trên, để đảm bảo việc thu NSNN được hiệu quả, nhà nước cần có những công cụ, những biện pháp thích hợp để tác động vào NSNN nhằm đạt được mục tiêu nhất định về thu NSNN. Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý bằng hệ thống các phương pháp nhằm thay đổi trạng thái của đối tượng quản lý, tiếp cận đến mục tiêu cuối cùng, phục vụ cho mục đích của con người.
Với ý nghĩa như vậy, có thể khái quát “Quản lý thu ngân sách nhà nước chính là việc nhà nước vận 7 dụng các quy luật khách quan, sử dụng hệ thống các phương pháp và dùng quyền lực của mình để tập trung một phần tài chính quốc gia hình thành quỹ NSNN nhằm thỏa mãn các nhu cầu của nhà nước, phục vụ cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước.” Bản chất của công tác quản lý thu ngân sách chính là việc quản lý thu thuế và các khoản thu ngoài thuế vào NSNN, thông qua việc sử dụng các công cụ chính sách quản lý theo quy định của Pháp luật. Đối tượng quản lý thu NSNN hướng tới là tất cả người dân trong xã hội, tất cả các đơn vị, tổ chức kinh tế như: các doanh nghiệp nhà nước, các đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài…mà có phát sinh nghĩa vụ nộp thu NSNN. Các khoản thu NSNN là khoản thu về thuế; phí, lệ phí và các khoản thu khác. Vai trò của quản lý thu NSNN Quản lý thu NSNN có vai trò rất quan trọng, thể hiện ở những khía cạnh: Thứ nhất, quản lý thu NSNN là công cụ quản lý của Nhà nước để kiểm soát, điều tiết các hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) của mọi thành phần kinh tế, kiểm soát thu nhập của mọi tầng lớp dân cư trong xã hội nhằm động viên sự đóng góp nhưng vẫn đảm bảo công bằng, hợp lý.
Thứ hai, quản lý thu NSNN là công cụ động viên, huy động các nguồn lực tài chính cần thiết để tạo lập quỹ tiền tệ tập trung của NSNN. Huy động các nguồn tài chính cần thiết vào nhà nước là nhiệm vụ chủ yếu của hệ thống thu dưới bất kỳ chế độ nào, đó là đòi hỏi tất yếu của mọi nhà nước. Nhà nước muốn thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình tất yếu phải có nguồn tài chính. Để có nguồn tài chính ổn định cho đất nước, Nhà nước cần thực hiện quản lý tốt nguồn thu ngân sách.
Thứ ba, quản lý thu NSNN nhằm khai thác, phát hiện, tính toán chính xác các nguồn tài chính của đất nước để có thể động viên vào NSNN, đồng thời không ngừng hoàn thiện các chính sách, các chế độ thu, có cơ chế tổ chức quản lý hợp lý. Thứ tư, quản lý thu ngân sách góp phần tạo môi trường bình đẳng, công bằng giữa các thành phần kinh tế, giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước trong quá trình SXKD. Với hình thức thu và mức thu thích hợp kèm với các chế độ miễn giảm 8 công bằng, thu NSNN có tác động trực tiếp đến quá trình SXKD của cơ sở. Với sự tác động quản lý thu ngân sách sẽ góp phần tạo nên môi trường kinh tế thuận lợi đối với quá trình SXKD, đồng thời là công cụ quan trọng thực hiện chức năng kiểm tra, kiểm soát của Nhà nước đối với toàn bộ hoạt động SXKD của xã hội.Hoạt động quản lý thu NSNN qua Kho bạc Nhà nước 1.
Sự ra đời và phát triển của KBNN Việt Nam Sự ra đời và phát triển của KBNN gắn liền với quá trình hình thành xây dựng và phát triển đất nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng – Nhà nước, chức năng nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của KBNN cũng dần được thay đổi cho phù hợp với nhiệm vụ chính trị của từng thời kỳ. Trong thời kỳ chống Pháp, KBNN đã được hình thành với tên gọi là Ngân khố Đông Dương trực thuộc phủ toàn quyền Đông Dương. Sau cách mạng Tháng Tám thành công năm 1945, Tổng Nha ngân khố quốc gia trực thuộc Bộ Tài chính được thành lập theo sắc lệnh số 45/TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Nhiệm vụ chủ yếu của Nha Ngân khố là: Quản lý, giám sát các khoản thu về thuế, các khoản cấp phát theo dự toán. Tổ chức phát hành giấy bạc Việt Nam, thực hiện các nguyên tắc cơ bản về thể lệ thu, chi, quyết toán. Ngày 6-5-1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam (nay là Ngân hàng nhà nước Việt Nam) qua đó giải thể Nha Ngân khố.