Chương 1 TONG QUAN, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN VE QUAN LÝ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Trong quá trình thực hiện dé tài, học viên đã tham khảo các nghiên cứu đi trước cũng như các văn bản quản lý liên quan và sử dụng một số kết quả của các công trình, văn bản quản lý này để làm nền tảng, minh chứng cho những nhận định được trình bày. Malcolm Gillis, Michael Roemer, Dwight H. Snodgrass "kinh tế học của sự phát triển" được dich và xuất bản bởi Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương - Trung tâm thống kê tài liệu, năm 1990.
Trong tác phẩm này khi ban về thu ngân sách nhà nước các tác giả cuỗn sách đã chỉ ra rằng thu ngân sách nhà nước lớn hay nhỏ phụ thuộc vào quy mô GDP; tỷ suất thuế (tỷ lệ % số thuế thu được trong GDP); bộ máy quản lý thuế. Bộ máy quản lý thuế gồm đội ngũ cán bộ thu thuế, hệ thống luật về thué, các thủ tục thuế, kỹ thuật tính thuế. Các biện pháp về thuế được sử dụng dé mở rộng thu ngân sách nhà nước ở các nước đang phát triển được tác giả công trình đưa ra là: + Tăng định kỳ mức thuế hiện hành tức là tăng mức thuế suất hiện hành mà không cần thay đổi gì trong luật thuế hoặc bộ máy quản lý thuế. + Ban hành thêm các loại thuế mới hay các khoản phí mới để tận thu thêm những khoản thu khác, nói chung thu về các loại này không lớn.
+ Cải tiến bộ máy quản lý thuế nhăm tăng thu trên cơ sở biểu thuế hiện hành, giảm thất thu và trốn thuế. Biện pháp này còn quan trọng hơn nhiều so với tăng mức thuế thu nhập xí nghiệp hay cá nhân. Nó cho phép tăng thu trên cơ sở các loại thuế hiện hành, ké cả khi không thay đổi mức thuế suất. Bởi lẽ những yếu kém của bộ máy quản lý thuế làm cho sự trốn thuế, lậu thuế trở thành một trong những vấn đề nhức nhối nhất của các nước đang phát triển.
Những yếu kém đó là: Thiếu đội ngũ cán bộ được đào tạo có hệ thống. Thiếu luật thuế hoàn chỉnh; các biện pháp xử phạt hành động trồn thuế, lậu thuế rất nhẹ; sử dụng kỹ thuật lạc hậu trong quản lý thuế; nạn hối lộ cán bộ thuế. Người ta tính rang chi với những nỗ lực khiêm tốn trong cải tiến bộ máy quan lý thuế, một số nước đang phát triển cũng có thể tăng 50% nguồn thu về thuế mà không cần tăng biểu thuế suất. Những biện pháp được áp dụng ở đây là: Hoan thiện pháp luật về thuế; đào tạo có hệ thống đội ngũ cán bộ thuế; cải tiến các thủ tục tính thuế, thu thuế; xử phạt nghiêm việc trốn thuế, lậu thué, hối lộ.
+ Cải cách cơ bản hệ thống thuế. Cải cách cơ bản hệ thống thuế đòi hỏi xóa bỏ hệ thống thuế cũ thay vào đó là những luật lệ và quy chế hoàn toàn mới về thuế. Cải cách cơ bản hệ thống thuế là biện pháp khó thực hiện nhất vì nó phải đối mặt với rất nhiều khó khăn về thông tin, về kỹ thuật, về chính trị và xã hội cũng như về nguồn lực. Nói chung chính phủ các nước đang phát triển không muốn có những nỗ lực lớn dé cải cách cơ bản hệ thống thuế nếu không có những cuộc khủng hoảng về tài chính, biểu hiện dưới dang thâm hut lớn về ngân sách.
Tuy nhiên, nhiều nước đang phát triển đang trong quá trình phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, vì thế cải cách cơ bản hệ thống thuế yêu cầu cấp bách đối với những nước nay. Bùi Đường Nghiêu. Đánh giá mức độ bền vững của ngân sách nhà nước Việt Nam trong điều kiện hiện nay, tạp chí nghiên cứu kinh tế số 332 tháng 01 -2006. Trong công trình này tác giả nghiên cứu 3 nội dung: - Các yếu tố cau thành sự bền vững của ngân sách nha nước đó là: thu bên vững; nợ bên vững; các rủi ro tiêm ân.
- Đánh giá thực trạng bền vững ngân sách nhà nước Việt Nam giai đoạn 1998 đến 2005. - Dé xuất giải pháp củng có sự bền vững ngân sách nhà nước Việt Nam giai đoạn 2006 - 2010 đó là: + Thúc đây mạnh chuyền dịch cơ cấu kinh tế, + Tiếp tục các chính sách đa dạng hóa các nhà đầu tư bỏ vốn cho kinh doanh, huy động mọi nguồn lực cho sản xuất kinh doanh, + Tiếp tục cải cách hệ thống thuế, + Tiếp tục thực hiện các nguyên tắc thận trọng trong quản lý vay và trả nỢ Vay, + Chú trọng tăng cường tiềm lực nhà nước, + Tăng cường tính ôn định và hiệu quả của ngân sách nhà nước, + Nghiên cứu và ứng dụng quy trình lập dự toán ngân sách nhà nước theo khuôn khổ ngân sách trung hạn, từng bước quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra, + Kiên quyết đổi mới phương pháp phân bổ ngân sách dau tư, chống thất thoát, lãng phí trong xây dựng cơ bản, + Hoàn thiện cơ chế tự chủ tải chính theo hướng tự chủ toàn diện, + Tăng cường tính công khai, minh bạch trong việc công bồ thông tin về cả số liệu và chính sách thu, chỉ ngân sách nhà nước. Trong cuốn “Báo cáo thường niên kinh tế Việt Nam 2011- Nền kinh tế trước ngã ba đường”, nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội 2011, tác giả Nguyễn Đức Thành đã nghiên cứu thực trạng thu ngân sách nhà nước của Việt Nam khi bàn về “nợ công của Việt Nam - rủi ro và thách thức”. Ở đây qua phân tích thực tế thu ngân sách của Việt Nam tác giả đã đi tới một số nhận xét quan trọng: Khả năng thu từ thuế và phí nhằm thu hẹp thâm hụt ngân sách của Việt Nam rõ ràng là rất hạn chế; Về bản chất thu từ khai thác đầu thô và các tài nguyên khác cũng tương tự như thu từ việc bán tài sản quốc gia, một mặt nó giúp hạn chế thâm hụt ngân sách hiện tại nhưng lại làm giảm tài sản thuộc sở hữu Nhà nước, hon nữa nguồn thu này cũng kém bền vững khi tài nguyên là hữu hạn; Đề thấy được chính xác hiện trạng thâm hụt ngân sách chúng ta còn phải tính đến những nghĩa vụ của ngân sách nhà nước trong tương lai; Tỷ lệ thu ngân sách nhà nước trên GDP đã rất cao so với các nước trong khu vực.
Ở phần khuyến nghị chính sách, tác giả nhân mạnh rang dé cải thiện nguồn thu cho ngân sách cần giảm dần sự phụ thuộc thu ngân sách vào khu vực doanh nghiệp nha nước, tăng nguồn thu từ khối doanh nghiệp nói chung và có thể là thuế thu nhập cá nhân (mở rộng cơ sở nộp thuế để tăng thu) (Nguyễn Đức Thành, 201 1). Bài "Ngan sách nhà nước 2013 và dự toán 2014 cua Phạm Minh Thụy đăng trên Thời báo kinh tế Việt Nam - kinh tế 2013 - 2014", Việt Nam và thế giới. Về thu ngân sách năm 2013, tác giả cho rằng "thu ngân sách nhà nước năm 2013 đã đạt thành công hết sức ấn tượng" băng cách "chạy nước rút đầy ngoạn mục" vào tháng 12 năm 2013. Năm 2013 thu từ xuất nhập khẩu, từ nội địa tăng, thu từ dầu thô bị giảm, thu từ viện trợ không hoàn lại cũng giảm.
Xu hướng nay sẽ giúp cho nguồn thu NSNN sẽ ổn định và vững chắc hơn. Về các giải pháp đảm bảo mục tiêu thu NSNN năm 2014, tác giả cho rằng: - Cần tập trung tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, phục hồi tăng trưởng từ đó tăng nguồn thu ngân sách. - Cần triển khai quyết liệt ngay từ đầu năm các nhiệm vụ về thu ngân sách nhà nước. Tổ chức thực hiện tốt các luật sửa đổi, bổ sung về quản lý thuế, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế gia tri gia tang; luật xử lý vi phạm hành chính; nghị quyết của ủy ban thường vu quốc hội về biêu thuê suât thuê tài nguyên.
Tăng cường theo dõi, kiêm tra, kiêm soát việc kê khai thuế của các tổ chức, cá nhân, chỉ đạo quyết liệt chống thất thu, thu hdi số thuế nợ đọng va quản lý chặt chẽ công tác hoàn thuế giá trị gia tăng (Phạm Minh Thụy,2014). Đề tài: “Giải pháp tăng thu trong cân đối ngân sách trên địa bàn huyện Bồ Trạch, tỉnh Quảng Bình” năm 2009, của tác giả Nguyễn Ngọc Tuấn. Tác giả đề tài đã nghiên cứu cơ sở lý luận về thu ngân sách Nhà nước. Vai trò, nhiệm vụ của ngân sách huyện, đặc biệt là các nguồn thu trong cân đối ngân sách huyện trên địa bàn.
Các nội dung quản lý của thu ngân sách huyện đã được phân cấp theo nhiệm vụ, chức năng quản lý của mình và sự cần thiết phải tăng cường công tác quản lý thu ngân sách trên địa ban. Đồng thời dé tài cũng nêu ra một số giải pháp nhăm tăng thu trong cân đối ngân sách nhà nước nhất là giải quyết các vấn đề đang vướng mắc trong công tác quản lý thu trong cân đối ngân sách nhà nước trên địa bàn. Các kết quả này có ý nghĩa với luận văn bởi đã giúp cho học viên kế thừa và phát triển trong đề tài của mình, có cái nhìn tổng quan, rõ ràng và có cơ sở khoa học. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nói trên đã đề cập nhiều khía cạnh của thu ngân sách nhà nước và quản lý thu ngân sách nhà nước.
Thực tế cho thấy đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu chuyên biệt về đề tài “Quản lý thu ngân sách nhà nước tại huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang” các tài liệu nói trên là những tư liệu quý sẽ được học viên tiếp thu, sử dụng có chọn lọc trong quá trình thực hiện luận văn này. Cơ sở lý luận về ngân sách nhà nước va quản lý thu NSNN 1. Ngân sách nhà nước a) Khái niệm ngân sách nhà nước NSNN là một phạm trù kinh tế khách quan, ra đời, ton tại và phát triển trên cơ sở sự ra đời, tôn tại và phát triên của Nhà nước. Luật NSNN của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thâm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” (Điều 1 luật NSNN số 01/2002 QH11 ngày 16/12/2002).
NSNN là quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước. Quy nay thé hiện lượng tiền huy động từ thu nhập quốc dân dé đáp ứng cho các khoản chi tiêu của Nhà nước, có hai mặt đó là: mặt tĩnh và mặt động.