Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN 1. Những vấn đề chung về quản lý thu bảo hiểm xã hội tự nguyện cho người dân 1. Khái niệm và bản chất của bảo hiểm xã hội tự nguyện cho người dân Theo Luật BHXH (2014): “Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức mà người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình và Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã hội để người tham gia hưởng chế độ hưu trí và tử tuất” (Luật BHXH số 58/2014/QH13). Đây có thể coi là khái niệm phản ánh đầy đủ và chính xác bản chất của BHXH tự nguyện.
Thực chất, BHXH tự nguyện là hình thức BHXH mà người tham gia hoàn toàn trên tinh thần tự nguyện, không có tác động khách quan áp đặt, không bị pháp luật cưỡng chế phải tham gia. Ở đó, họ được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình để hưởng BHXH. Có thể nói, BHXH tự nguyện là loại hình BHXH nhằm bao phủ hết các đối tượng còn lại, chưa được tham gia loại hình BHXH bắt buộc theo quy định của pháp luật, đồng thời là cầu nối trung gian, là bước quá độ tiến tới thực hiện BHXH cho mọi người lao động trong xã hội, đảm bảo an sinh xã hội. Đối tượng tham gia BHXH tự nguyện là NLĐ hưởng lương và NLĐ không hưởng lương, trên cơ sở tự nguyện và tự lựa chọn mức đóng BHXH tự nguyện cùng với sự giúp đỡ, hỗ trợ của ngân sách nhà nước.
Theo quy định tại Luật BHXH số 58/2014/QH13, Nghị định 34/2015/NĐ-CP ngày 29/12/2015 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội tự nguyện, Thông tư 01/2016/TT- BLĐTBXH của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội ngày 18/02/2016 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHXH về BHXH tự e 10 nguyện: Người tham gia BHXH tự nguyện là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên và không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc theo quy định của pháp luật về BHXH, bao gồm: NLĐ làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn dưới 03 tháng trước ngày 01 tháng 01 năm 2018; NLĐ làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn dưới 01 tháng từ ngày 01 tháng 01 năm 2018 trở đi; Người hoạt động không chuyên trách ở thôn, ấp, bản, sóc, làng, tổ dân phố, khu phố; NLĐ giúp việc gia đình; Người tham gia các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ không hưởng tiền lương; Xã viên không hưởng tiền lương, tiền công làm việc trong hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; Người nông dân, NLĐ tự tạo việc làm bao gồm những người tự tổ chức hoạt động lao động để có thu nhập cho bản thân và gia đình; NLĐ đã đủ điều kiện về tuổi đời nhưng chưa đủ điều kiện về thời gian đóng để hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật về BHXH; Người tham gia khác. Vai trò của bảo hiểm xã hội tự nguyện cho người dân 1.1 Đối với người lao động BHXH tự nguyện là một trong những chính sách an sinh - xã hội của Nhà nước, góp phần ổn định cuộc sống cho NLĐ khi gặp rủi ro, khắc phục những khó khăn thông qua các khoản trợ cấp được chi trả bằng nguồn quỹ BHXH tự nguyện. Trong cuộc sống hàng ngày và trong quá trình lao động, NLĐ không thể tránh khỏi những rủi ro như già yếu hay tử tuất. Lúc này, dựa trên cơ sở mức đóng BHXH tự nguyện mà trước đó NLĐ đã đóng góp vào quỹ BHXH tự nguyện, cơ quan BHXH sẽ chi trả các khoản trợ cấp thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập bị giảm sút hoặc mất đi của NLĐ, giúp họ ổn định phần nào cuộc sống và yên tâm công tác.
Hoặc khi NLĐ hết tuổi lao động thì BHXH dựa trên nguyên tắc có đóng có hưởng sẽ chi trả tiền lương hưu cho NLĐ theo tỷ lệ quy định hiện hành của Nhà nước đến khi chết để đảm bảo cuộc sống cho NLĐ.2 Đối với xã hội Với tư cách là một trong những chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước, hoạt động BHXH tự nguyện đem lại sự an toàn và hiệu quả cho xã hội. Hệ thống BHXH tự nguyện phát triển sẽ hỗ trợ cho thị trường lao động phát triển tốt hơn từ đó đảm bảo quyền lợi về an sinh xã hội cho NLĐ, giảm gánh nặng ngân sách Nhà nước trong việc hỗ trợ người cao tuổi không có thu nhập từ lương. BHXH tự nguyện đã thực hiện việc phân phối giữa những người có thu nhập cao với những người có thu nhập thấp; giữa những người khỏe mạnh, có việc làm với những người hết tuổi lao động. Nhờ đó, BHXH tự nguyện đã góp phần quan trọng làm giảm bớt khoảng cách giàu nghèo trong xã hội, góp phần đảm bảo thực hiện công bằng xã hội, đồng thời góp phần bảo đảm an ninh quốc gia.3 Đối với nền kinh tế Khi NLĐ gặp rủi ro đã có cơ quan BHXH chi trả các khoản trợ cấp, do vậy không làm ảnh hưởng đến tình hình tài chính của cá nhân, góp phần ổn định nền kinh tế.
Bên cạnh đó, hoạt động đầu tư quỹ BHXH tự nguyện tác động không nhỏ đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội góp phần tạo ra những cơ sở sản xuất kinh doanh mới, tạo công ăn việc làm, góp phần giải quyết tình trạng thất nghiệp, tăng thu nhập cá nhân cho NLĐ nói riêng và tăng tổng sản phẩm quốc nội cũng như tổng sản phẩm quốc dân nói chung. Khái niệm về quản lý thu bảo hiểm xã hội tự nguyện cho người dân Có rất nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề quản lý: Theo Nguyễn Minh Đạo (1997): “Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục tiêu đã đề ra” (Giáo trình Cơ sở khoa học quản lý, 1997). e 12 Theo Khoa học Quản lý (2007): “Quản lý là việc đạt tới mục đích của tổ chức một cách có kết quả và hiệu quả thông qua quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các nguồn lực của tổ chức” (Giáo trình Khoa học quản lý tập 01, 2007). Thông qua các quan điểm trên có thể hiểu, quản lý là một quá trình trong đó chủ thể quản lý sẽ sử dụng các công cụ phù hợp để tác động lên đối tượng quản lý nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra.
Thu BHXH tự nguyện là việc Nhà nước tổ chức thực hiện thu từ các đối tượng tự nguyện tham gia, lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình. Trên cơ sở đó, hình thành một quỹ tập trung nhằm mục đích đảm bảo cho an sinh xã hội. Đối với hoạt động quản lý thu BHXH tự nguyện, đối tượng quản lý chính là hoạt động thu BHXH tự nguyện, các công cụ để quản lý thu BHXH tự nguyện đó chính là Luật BHXH và các văn bản dưới luật quy định về quản lý thu BHXH tự nguyện và các biện pháp hành chính, tổ chức, kinh tế. Như vậy có thể hiểu: Quản lý thu BHXH tự nguyện là sự tác động có tổ chức, có tính pháp lý để điều chỉnh các hoạt động thu BHXH tự nguyện.
Sự tác động đó được thực hiện bằng hệ thống pháp luật của Nhà nước và bằng các biện pháp hành chính, tổ chức, kinh tế của cơ quan chức năng nhằm đạt được mục tiêu thu đúng đối tượng, thu đủ số lượng và đảm bảo thời gian theo quy định. Đặc điểm của quản lý thu bảo hiểm xã hội tự nguyện cho người dân Thứ nhất, đảm bảo cho yếu tố “đầu vào” (tiền nộp BHXH tự nguyện) đủ khả năng thực hiện quá trình tái sản xuất xã hội, tức là có thu đúng, thu đủ, thu kịp thời mới đảm bảo chi trả chế độ cho người tham gia, góp phần ổn định đời sống của người tham gia khi nghỉ hưu cũng như khi về già. e 13 Thứ hai, xác lập rõ ràng quyền lợi và trách nhiệm của các bên tham gia BHXH tự nguyện, đó là: người tham gia và cơ quan BHXH. Phân định rõ chức năng quản lý nhà nước với chức năng hoạt động sự nghiệp của BHXH.
Thứ ba, không bỏ sót nguồn thu, quản lý chặt chẽ, đảm bảo nguồn thu BHXH tự nguyện được sử dụng đúng mục đích, đồng thời làm cho nguồn thu BHXH tự nguyện liên tục tăng trưởng. Thứ tư, đảm bảo cho các quy định về thu BHXH tự nguyện được thực hiện nghiêm túc, hiệu quả, khắc phục được tính bình quân nhưng vẫn đảm bảo tính xã hội thông qua việc điều tiết, chia sẻ rủi ro.5 Vai trò của quản lý thu bảo hiểm xã hội tự nguyện cho người dân Một là, tạo sự thống nhất, tập trung trong hoạt động thu BHXH tự nguyện. Đối tượng tham gia BHXH tự nguyện bao trùm tất cả các ngành, nghề, lĩnh vực, mức thu nhập, nhận thức, thái độ khác nhau. Nếu không có sự chỉ đạo thống nhất thì hoạt động thu sẽ không đạt kết quả cao.
Quản lý tạo ra sự thống nhất, ý chí, sự đồng bộ giữa các cấp trong quá trình tổ chức thực hiện. Đồng thời, thông qua việc lập kế hoạch, phân công công việc một cách rõ ràng, công tác quản lý thu BHXH tự nguyện cũng đạt hiệu quả cao và giảm được phần chi phí đáng kể. Như vậy, thông qua hoạt động quản lý đã thống nhất được những nội dung quan trọng của hoạt động thu BHXH tự nguyện, đó là: thống nhất về đối tượng thu, thống nhất về mức thu, về phương thức thu, về biểu mẫu, quy trình thu, nộp BHXH tự nguyện. Hai là, đảm bảo hoạt động thu BHXH tự nguyện ổn định, bền vững, hiệu quả.
Tính ổn định, bền vững, hiệu quả của hoạt động thu BHXH tự nguyện là mục tiêu mà hệ thống BHXH của quốc gia nào cũng mong muốn. Tuy nhiên, mục tiêu này chỉ đạt được khi: e 14 Hoạt động thu BHXH tự nguyện được định hướng đúng đắn: thông qua quản lý, công tác thu được định hướng đúng đắn theo mục tiêu chung là: thu đúng, thu đủ, không để thất thoát thu. Từ đó, hướng mọi sự nỗ lực của cá nhân, tổ chức vào mục tiêu chung đó. Hoạt động thu BHXH tự nguyện được điều hòa, phối hợp nhịp nhàng: một trong những nhiệm vụ mà người quản lý phải liên tục đảm nhiệm là chỉ huy.