Chương 1.TONG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VA THUC TIEN VE QUAN LY THONG TIN 1. Tong quan tình hình nghiên cứu về quan lý thông tin 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thương mại quốc tế, dé dam bảo tính tuân thủ pháp luật của người xuất nhập khâu, Ngành Hải quan đã có nhiều cơ chế nhằm kiểm soát chặt chẽ hoạt động xuất nhập khẩu, trong đó có hoạt động quản lý thông tin luôn được đây mạnh, qua đó các sai phạm được phát hiện ngày càng nhiều với các phương thức, thủ đoạn khác nhau. Do vậy, dé phục vụ tốt hơn cho công tác quản lý, nhiều công trình nghiên cứu, đề tài liên quan đến hoạt động này đã được thực hiện và ban hành phục vụ tốt hơn cho người đọc, người nghiên cứu, cũng như các CBCC Hải quan.
Tình hình nghiên cứu các vấn đề lý luận về công tác quản lý thông tin có thé ké tên các công trình sau: - Vũ Ngọc Anh (2010), trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành hải quan về “Nâng cao hiệu quả áp dung quản lý rủi ro trong lĩnh vực nghiệp vụ hải quan” đã nghiên cứu xác định những nội dung khái quát nhất về quản lý thông tin, quản lý rủi ro cần được áp dụng trong các lĩnh vực nghiệp vụ hải quan trong bối cảnh hội nhập quốc tế và triển khai hải quan điện tử của Việt Nam. Tuy nhiên, đề tài chưa đi sâu nghiên cứu sự kết nối và tương quan của quản lý rủi ro với quản lý thông tin đối với doanh nghiệp xuất nhập khâu trong giai đoạn này. - Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ Tài chính “Pháp luật về thủ tục hải quan điện tử - thực trạng và giải pháp” (năm 2018) do tác giả Phạm Đức Hạnh làm Chủ nhiệm. Đề tài đã phân tích được thực trạng, những khó khăn vướng mắc và giải pháp đặt ra khi triển khai thực hiện quản lý thông tin, quản lý thủ tục hải quan điện tử tại Việt Nam; Trong đó đề xuất là nhà nước cần thê chế hóa kịp thời các thông tin về hành vi vi phạm pháp luật về hải quan trong quá trình thực hiện thủ tục hải quan điện tử tại các văn bản quy phạm pháp luật, nhất là trong việc hoàn thiện các quy định về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan.
- Quách Đăng Hòa (2015), thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành Tài chính về “Nghiên cứu, xây dựng khung tiêu chuẩn quản lý rủi ro của Hải quan Việt Nam”, trong đó đi sâu nghiên cứu xây dựng khung tiêu chuẩn quản lý rủi ro bao gồm phương pháp, kỹ thuật và nghiệp vụ về quản lý thông tin, quản lý rủi ro, bổ sung hoàn thiện làm rõ hơn về lý luận quản lý thông tin dựa trên quản lý rủi ro trong hải quan hiện đại là một nội dung rất quan trọng trong quản lý. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp TCHQ “Giải pháp trao đổi thông tin điện tử về hàng hóa XNK với liên minh kinh tế A — Au” (năm 2019). Don vị chủ trì: Cục công nghê thông tin và thống kê hải quan.Nghiên cứu, đánh giá hiện trạng quản lý thông tin hàng hóa xuất nhập khâu cũng như hệ thống công nghệ thông tin trong quản lý hàng hóa xuất nhập khâu. Trên cơ sở đó đề xuất giải pháp tổng thể, quy trình thủ tục và phương án, giải pháp kỹ thuật nhằm triển khai kết nối, trao đổi thông tin điện tử liên quan đến hàng hóa xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và EAEU theo đúng thời gian cam kết tại Hiệp định.Nghiên cứu và triển khai các tiêu chuẩn giao tiếp trao đổi thông tin giữa cơ quan hải quan với các đối tác EAEU (Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam — Liên minh Kinh tế A — Âu).
Thực tế này đặt ra yêu cầu phải gap rút trién khai hệ thống quản lý thông tin bằng hệ thống công nghệ thông tin, trao đôi thông tin điện tử dé có thé rút ngắn thời gian thông quan, kiểm tra hàng hóa, giảm chi phí cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu, đáp ứng tiến độ Hiệp định và tạo thuận lợi thương mại giữa Việt Nam - Liên minh kinh tế A — Âu. Vì vậy, dé tài nay là phù hợp với yêu cầu thực tế của ngành Hải quan, cục QLRR, cộng đồng doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu bức thiết đang đặt ra đối với Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng nói chung và việc thực hiện Hiệp định thương mại tự do Việt Nam — EAEU nói riêng. Ngoài ra, trong các công trình nghiên cứu ở nước ngoài có thể ké đến như sau: - “Luật hải quan một số nước” (bản dịch, 2003) do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia phát hành. Cuốn sách chuyên khảo đã nêu các quy định pháp luật của các nước trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương như Philippines, Indonesia, Trung Quốc và Ô-xtrây-lia.
Việc quản lý thông tin hải quan dựa vào nguyên tắc chung của hải quan các nước, đây cũng là nguồn thông tin quan trọng dé áp dụng trong qua trình xử lý các biện pháp nghiệp vụ. - “Managing Risk in the customs context’’, 2005 (Tạm dich: Quản lý rủi ro trong hoạt động hải quan) của tác gia David Widdonson, được đăng trong tuyén tap “Customs modernization Handbook’’ do Ngân hàng Thế giới xuất bản năm 2005 tại Washington, D. Bài viết phân tích tầm quan trọng của việc quản lý thông tin hải quan, công cụ điều hành bằng pháp luật hải quan, những kết quả đạt được trong việc cân bằng quan hệ thương mại đối với hải quan, kiêm soát chất lượng hàng hóa, yêu cầu công bố thông tin của sản phẩm, đưa ra một số minh chứng về kiểm soát thủ tục hải quan. Tài liệu “Cẩm nang về quản lý rủi ro” của Tổ chức hải quan thé giới (2011) là công trình đầy đủ và nhiều thông tin về thực hành thông tin quản lý rủi ro trong lĩnh vực hải quan, góp phần hỗ trợ hải quan các nước thành viên áp dụng phương thức thông tin quản lý rủi ro toàn diện và hiệu quả nhất trên cơ sở hệ thống hóa lý luận, các công cụ và phương thức quản lý hải quan hiện đại, trong đó lần đầu tiên Tổ chức hải quan thế giới đưa ra “tuyên ngôn” chính thức về phương pháp quản lý thông tin hiện đại dựa trên phân tích rủi ro.
Theo đó, quan lý thông tin là sự kết tinh trí tuệ, kinh nghiệm thực tiễn của hải quan các nước hơn hai thập kỷ qua. Những bài viết, công trình nghiên cứu nêu trên, ở góc độ này hay góc độ khác đã hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích, đánh giá việc quản lý thông tin trong hoạt động kiểm tra hàng hóa xuất nhập khẩu ở quy mô toàn ngành Hải quan hay một số Cục Hải quan tỉnh, thành phố. Tuy nhiên, đây là những tài liệu tham khảo hết sức bổ ích, đóng góp về lý luận chung và các cơ sở khoa học dé dé tài này thừa kế và tiếp tục phân tích nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý và xử lý thông tin không chỉ tại Cục Quản lý rủi ro mà còn phát triển công tác này cho toàn Ngành Hải quan. Khoảng trồng can nghiên cứu và những van đề can quan tâm Hiện nay đã có nhiều đề tài, công trình nghiên cứu các vấn đề lý luận, thực trạng pháp luật, thực tiễn thực hiện đối với hoạt động quản lý rủi ro như đổi mới hoạt động nghiệp vụ hải quan, kiểm tra hải quan, giám sát hải quan, kiểm soát hải quan, pháp luật về kiêm tra sau thông quan, quản lý nhà nước về hải quan, xử lý vi phạm hành chính liên quan đến hoạt động hải quan hay kiểm tra sau thông quan.
Tuy nhiên, các đề tai, công trình khoa học đa sé tập trung vào các hoạt động chu yêu thiên về quản lý nhà nước, các biện pháp nghiệp vụ về kiểm soát chống buôn lậu, gian lận thương mại, kiểm soát thủ tục hành chính hoặc nghiên cứu dưới góc độ kinh tế. Ở trong nước và trên bình diện quốc tế,chưa có công trình nghiên cứu cụ thê về quản ly thông tin tại Cục Quản lý rủi ro — Tổng cục Hải quan. Đây là đề tài mang tính độc lập, không bị trùng lặp cần được tiếp tục nghiên cứu. Vì vậy cần thiết phải có một công trình nghiên cứu hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý thông tin nói chung, đánh giá thực trạng công tác quan lý thông tin một cách có hệ thống, đồng bộ, qua đó làm căn cứ đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thông tin tại Cục Quản lý rủi ro — Tổng cục Hải quan trong thời gian tới.
Cơ sở lý luận về quản lý thông tin 1. Một số khái niệm Thông tin: là khái niệm có từ rất lâu và bắt đầu sử dụng rộng rãi vào đầu những năm 1950. Đây là một khái niệm rộng, tùy vào lĩnh vực nghiên cứu mà có những định nghĩa khác nhau. Thậm chí ngay các từ điển cũng không thé có một định nghĩa thống nhất.
Vi dụ: Từ điển Oxford English Dictionary thi cho rằng thông tin là " điều mà người ta đánh giá hoặc nói đến; là tri thức, tin tức" Từ điển khác thi đơn giản đồng nhất thông tin với kiến thức:"Thông tin là điều mà người ta biết" hoặc "thông tin là sự chuyển giao tri thức làm tăng thêm sự hiểu biết của con người" v„v. Nguyên nhân của sự khác nhau trong việc sử dụng thuật ngữ này chính là do thông tin không thể sờ mó được. Người ta bắt gặp thông tin chỉ trong quá trình hoạt động, thông qua tác động trừu tượng của nó. Tu Latin “Informatio”, gốc cua từ hiện dai “information” (thông tin) có hai nghĩa.
Một, nó chỉ một hành động rất cụ thé là tạo ra một hình dang (form). Hai, tuỳ theo tỉnh huống, nó có nghĩa là sự truyền đạt một ý tưởng, một khái niệm hay một biểu tượng. Tuy nhiên cùng với sự phát triển của xã hội, khái niệm thông tin cũng phát triển theo. Theo nghĩa thông thường: Thông tin là tất cả các sự việc, sự kiện, ý tưởng, phán đoán làm tăng thêm sự hiểu biết của con người.
Thông tin hình thành trong quá trình giao tiếp: một nguời có thể nhận thông tin trực tiếp từ người khác thông qua các phương tiên thông tin đại chúng, từ các ngân hàng dữ liệu, hoặc từ tất cả các hiện tượng quan sát được trong môi trường xung quanh. Trên quan điểm triết học: Thông tin là sự phản ánh của tự nhiên và xã hội (thế giới vật chất) bằng ngôn từ, ký hiệu, hình ảnh v.