CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN TÍN DỤNG 1. Lý luận chung về thông tin tín dụng ngân hàng 1. Lịch sử hình thành thông tin tín dụng Sự phát triển nền kinh tế thế giới 3 thế kỷ qua cho thấy hoạt động ngân hàng luôn đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế của từng quốc gia và của toàn bộ nền kinh tế thế giới. Bên cạnh hoạt động của ngân hàng luôn có sự hỗ trợ tích cực của TTTD.
Thật vậy, lịch sử hoạt động tín dụng đã chứng minh điều đó, trong những thập niên đầu của lịch sử nước Mỹ, khi hầu hết các nhà kinh doanh ở trong cùng một địa phương, họ đều hiểu nhau khá rõ, vì vậy các ngân hàng cũng hiểu khá rõ về khách hàng của mình nên chưa có nhu cầu TTTD. Nhưng khi mức độ và quy mô hoạt động kinh doanh mở rộng trong một nền kinh tế lớn hơn, nhiều người kinh doanh, ở các địa bàn khác nhau thì các nhà kinh doanh không thể hiểu nhau hết và buộc phải có thông tin về các đối tác, các ngân hàng buộc phải có thông tin kiểm chứng về khách hàng của mình. Đầu tiên, là những bức thư giới thiệu từ những nhà kinh doanh đã từng có quan hệ kinh doanh với nhau, những nhà cung ứng và các ngân hàng bạn, hoặc luật sư để xác định về một khách hàng nào đó. Nhưng đến khoảng những năm 1830 do ngành đường sắt ở Mỹ phát triển mạnh, kéo theo hàng loạt tập đoàn kinh tế hình thành trong các lĩnh vực vận tải, cơ khí, khai mỏ, xây dựng, bảo hiểm…nên việc mở rộng mức độ và phạm vi kinh doanh tăng lên rất mạnh dẫn đến sự xuất hiện của tổ chức "báo cáo tín dụng".
Lịch sử của một trong những tổ chức TTTD xuất hiện đầu tiên là năm 1841, Lewis Tappan đã sáng lập ra Mercantile Agency, thu thập thông tin thông qua mạng các đại lý và bán các thông tin đó cho những người đăng ký mua. Nội dung thông tin về vị thế kinh doanh và khả năng trả nợ đáng tin cậy của các khách hàng trên toàn nước Mỹ. Công ty Mercantile Agency đã trở thành R. Những người đăng ký mua thông tin của Dun bao gồm những người bán hàng, những người nhập khẩu, các ngân hàng và công ty bảo hiểm.
Hồ sơ lưu trữ tăng từ 7.000 năm 1880 và đến năm 1900 có hơn một triệu HSKH. 5 Đồng thời, vào năm 1849, John Bradstreet ở Cincinati sáng lập ra công ty thông tin Bradstreet. Năm 1857, lần đầu tiên trên thế giới công ty Bradstreet đã phát hành cuốn sách xếp loại thương mại. Năm 1933 công ty Dun và công ty Bradstreet đã hợp nhất thành công ty Dun&Bradstreet (D&B).
D&B hiện nay đang là công ty TTTD đứng hàng thứ tư trên thế giới. Năm 1962 Dun & Bradstreet đã thôn tính được Moody's, là công ty xếp loại trái phiếu thành lập từ năm 1906. Như vậy mối quan hệ gần gũi giữa xếp loại doanh nghiệp và báo cáo TTTD đã hợp nhất thành TTTD. * Khái niệm về thông tin tín dụng Thông tin tín dụng là những thông tin về khách hàng có quan hệ tín dụng với tổ chức tín dụng, tổ chức khác có hoạt động ngân hàng và các thông tin khác liên quan đến khách hàng trong quan hệ tín dụng với các tổ chức tín dụng, tổ chức khác có hoạt động ngân hàng.
Nội dung, đặc điểm, yêu cầu của thông tin tín dụng * TTTD có các nội dung chính như sau: a) Thông tin về khách hàng vay là pháp nhân: Bao gồm hồ sơ pháp lý của pháp nhân; tình hình tài chính và phi tài chính; tóm tắt lý lịch và kinh nghiệm công tác của những người sở hữu và người lãnh đạo chủ chốt của doanh nghiệp; quá trình kinh doanh, lịch sử thanh toán và khả năng thanh toán hiện thời; tình hình quan hệ tín dụng tại các ngân hàng, những vi phạm trong việc sử dụng các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, đánh giá xếp loại của ngân hàng…Đây là một bộ hồ sơ về khách hàng của NHTM, được lưu trữ trong kho dữ liệu của hệ thống ngân hàng. Hồ sơ này phản ánh thực chất về khách hàng đó và phải luôn được bổ sung, cập nhật. b) Thông tin về khách hàng vay là thể nhân: Là thông tin về các thể nhân có quan hệ tín dụng tại các NHTM. Thông tin này đơn giản hơn nhiều so với khách hàng vay là pháp nhân, thường chỉ gồm họ tên, địa chỉ, chứng minh thư, tình hình quan hệ tín dụng, tài sản đảm bảo… của người vay.
c) Thông tin về thẻ tín dụng: Là thông tin liên quan đến thẻ tín dụng do TCTD (tổ chức phát hành thẻ) cấp cho khách hàng là cá nhân hoặc tổ chức bao 6 gồm: thông tin về hồ sơ pháp lý của thẻ tín dụng; thông tin về dư nợ thẻ tín dụng; thông tin về vi phạm quy định đối với thẻ tín dụng đ) Thông tin phân tích, tổng hợp gồm: Tổng hợp theo các NHTM; theo địa bàn tỉnh, thành phố; theo ngành kinh tế; phân tích đánh giá xếp loại tín dụng doanh nghiệp; phân tích theo NHTM, theo ngành nghề; thông tin cảnh báo sớm… e) Thông tin kinh tế, thị trường: Là những thông tin tổng hợp về môi trường hoạt động của các chủ thể kinh doanh, cụ thể là thông tin về chế độ, chính sách của Nhà nước về kinh tế, tiền tệ, quản lý ngoại hối, quan lý doanh nghiệp, xuất nhập khẩu; thông tin về thị trường, giá cả, lãi suất, tỷ giá hối đoái, thông tin kinh tế ngành…có liên quan đến hoạt động ngân hàng. f) Thông tin ngoài nước: Gồm các thông tin về đối tác nước ngoài có ý định đầu tư vào trong nước, thông tin về kinh tế thương mại trong khu vực và thế giới. * Thông tin tín dụng có những đặc điểm sau : a) Hiệu quả của chất lượng tín dụng phụ thuộc vào việc các TCTD cung cấp đầy đủ, trung thực, chính xác, kịp thời thông tin và sử dụng thông tin theo nguyên tắc chặt chẽ. Việc chia sẻ thông tin không tốt sẽ ảnh hưởng xấu đến chính mình và các ngân hàng khác.
b) Các TCTD cần báo cáo tất cả các dịch vụ tín dụng được cấp cho người vay của họ, kể cả dịch vụ tín dụng thương mại và tín dụng tiêu dùng. Một tổ chức tài chính không được phép truy cập báo cáo tín dụng về một khách hàng vay, nếu người đó không phải là khách hàng của họ. c) TTTD rất "nhậy cảm" và đòi hỏi độ tin cậy cao nên phải được quản lý chặt chẽ, kể cả khi người vay cần xem báo cáo tín dụng của anh ta, thì cũng không lấy được báo cáo đó. Hay khi cần bảo lãnh một khoản vay, người vay không thể nhận một bản photo báo cáo tín dụng về cá nhân mình.
Ngoài những đặc điểm riêng ở trên, TTTD còn có đặc điểm như : khối lượng thông tin rất lớn, rộng, phức tạp, thường xuyên thay đổi, khó thu thập đầy đủ, cập nhật chính xác. 7 * Yêu cầu của TTTD Để đảm bảo chất lượng của hoạt động TTTD, TTTD cần đáp ứng được các yêu cầu dưới đây. a) Tính chính xác: Tính chính xác trong TTTD thể hiện ở chỗ thông tin thu thập phải phản ánh trung thực tình trạng và diễn biến khách quan của hiện tượng kinh tế - kỹ thuật. Thông tin không bị nhiễu trong quá trinh truyền đưa và không được mang mầu sắc hay ý tưởng chủ quan áp đặt của người làm công tác thông tin.
b) Tính kịp thời: Xã hội và nền kinh tế luôn trong trạng thái vận động. Do đó, để đảm bảo cho quá trình phân tích và đánh giá sự việc được chính xác, các thông tin phải thường xuyên được bổ sung, cập nhật… giá trị của thông tin không chỉ là nội dung thông tin mà còn phải đam bảo tính thời gian. Thông tin bảo đảm kịp thời sẽ giúp cho các TCTD có được kết luận đúng đắn trong việc lựa chọn đối tượng đầu tư. c) Tính đầy đủ: Thông tin phản ánh một cách toàn diện đối tượng theo thời gian và không gian.
Thông tin trung thực, chính xác phải phản ánh đúng sự thật khách quan, không thiên vị hay vụ lợi, không bóp méo sự thật. Thông tin thu thập càng đầy đủ thì các kết luận đưa ra càng chính xác và có giá trị. Thông tin không đầy đủ sẽ dẫn tới các kết luận phiến diện, thiếu tính thuyết phục. Đây là yêu cầu hàng đầu đối với thông tin nói chung và TTTD nói riêng.
d) Tính pháp lý: Tính pháp lý trong TTTD thể hiện ở chỗ các thông tin thu thập được phải có nguồn gốc rõ ràng. Đối với các văn bản, chế độ, bên cạnh việc thu thập được nội dung của tài liệu cần làm rõ ngày tháng, cấp có thẩm quyền ban hành văn bản, tài liệu…đây là những yếu tố quan trọng đảm bảo kết luận đửa ra phù hợp với các quy định quản lý hiện hành của Nhà nước cũng như của hệ thống ngân hàng. Đối với các số liệu thống kê, cần ghi rõ nguồn cung cấp. e) Tính kinh tế: Trong kinh tế thị trường, thông tin là một loại hàng hóa.
Để có được thông tin có giá trị, người dùng tin phải bỏ ra một khoản chi phí nhất định. Hoạt động TTTD đòi hỏi nhiều loại thông tin khác nhau, do đó, thông tin mà ngân 8 hàng khai thác phải đảm bảo được tính kinh tế, chi phí sử dụng thông tin phải ở mức hợp lý, người mua có thể chấp nhận được. g) Tính an toàn, bí mật: Thông tin phải đảm bảo an toàn, bí mật cho cả người cung cấp và người sử dụng tin, bảo đảm không tiết lộ bí mật sản xuất kinh doanh của khách hàng, không tiết lộ bí mật ngân hàng, bí mật quốc gia. Lợi ích của thông tin tín dụng ngân hàng * Đối với hoạt động ngân hàng a) Đối với hoạt động quản lý, điều hành của NHNN TW: cùng với nguồn thông tin khác từ hệ thống thông tin báo cáo; qua các công cụ quản lý (quản lý các ngân hàng, thanh tra, quản lý ngoại hối) TTTD góp phần tạo nguồn thông tin quan trọng phục vụ cho công tác quản lý điều hành của NHTW, cụ thể: Thông qua việc nắm bắt các thông tin về tình hình dư nợ khách hàng, thông tin về đảm bảo tiền vay, thông tin về bảo lãnh tín dụng.NHNN nắm bắt phân tích được tình hình tín dụng đối với nền kinh tế, đánh giá và dự báo xu hướng tăng trưởng và phát triển tín dụng.
Đồng thời đánh giá được chất lượng khách hàng, chất lượng khoản vay phục vụ cho công tác phân tích, đánh giá tạo nguồn thông tin đã xử lý phục vụ cho công tác điều hành chính sách tiền tệ của NHTW.