phần Mở đầu và Kết luận, Kiến nghị. Nội dung các chƣơng cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về QLNN đối với logistics. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc về logistics trên địa bàn tỉnh Bình Định. Chƣơng 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nƣớc về logistics tỉnh Bình Định.
e 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI LOGISTICS 1.Tổng quan về logistics 1. Khái niệm về logistics Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về Logistics và khó có thể khẳng định định nghĩa nào là đúng nhất vì Logistics là một thuật ngữ rất rộng. Thuật ngữ Logistics lần đầu tiên đƣợc sử dụng trong quân đội, mang nghĩa là “hậu cần” hoặc “tiếp vận”. Cùng với quá trình phát triển, logistics đã đƣợc chuyên môn hóa và phát triển trở thành một ngành dịch vụ đóng vai trò rất quan trọng trọng trong giao thƣơng quốc tế.
Theo Hội đồng quản trị logistics của Mỹ (Council of Logistics Management – CLM, 1991) thì “Logistics là quy trình chuỗi cung ứng có nhiệm vụ lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát quá trình lưu chuyển, dự trữ hàng hóa, dịch vụ và những thông tin liên quan từ điểm khởi đầu của quá trình sản xuất đến điểm tiêu thụ cuối cùng nhằm mục đích thỏa mãn được các yêu cầu của khách hàng”. Theo quan niệm của Liên hợp quốc: “Logistics là hoạt động quản lý quá trình lưu chuyển nguyên vật liệu qua các khâu lưu kho, sản xuất ra sản phẩm cho tới tay người tiêu dùng theo yêu cầu của khách hàng”. Theo quan điểm 7 đúng (seven rights): “Logistics là quá trình cung cấp đúng sản phẩm đến đúng khách hàng, một cách đúng số lượng, đúng điều kiện, đúng địa điểm, đúng thời gian với chi phí phù hợp cho khách hàng tiêu dùng sản phẩm”. Theo các quan niệm này, logistics gắn liền cả quá trình nhập nguyên vật liệu làm đầu vào cho quá trình sản xuất, sản xuất ra hàng hóa và đƣa vào e 7 các kênh lƣu thông, phân phối đến tay ngƣời tiêu dùng cuối cùng.
Ở đây có sự phân định rõ ràng giữa các nhà cung cấp dịch vụ đơn lẻ nhƣ dịch vụ vận tải, giao nhận, khai thuê hải quan, phân phối, dịch vụ hỗ trợ sản xuất, tƣ vấn quản lý… Nhƣ vậy, theo nghĩa rộng, logistics đƣợc hiểu nhƣ là một quá trình có tác động từ giai đoạn tiền sản xuất cho tới khi hàng hóa tới tay của ngƣời tiêu dùng cuối cùng. Tại Việt Nam, khái niệm về Logistics chƣa đƣợc bàn tới, Luật Thƣơng mại Việt Nam năm 2005 (Mục 4, Điều 233) chỉ đƣa ra định nghĩ về dịch vụ logistics:“Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác,tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”. Luật Thƣơng mại Việt Nam coi dịch vụ logistics gần nhƣ tƣơng tự với hoạt động giao nhận hàng hóa, những ngƣời kinh doanh cung cấp một trong các dịch vụnhận hàng, vận chuyển, lƣu kho… thì đƣợc xem là nhà cung cấp dịch vụ logistics. Theo định nghĩa này, dịch vụ logistics có bản chất nhƣ một hoạt động tập hợp các yếu tố hỗ trợ cho quá trình vận chuyển sản phẩm từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ.
Góc độ nghĩa hẹp, Logistics đƣợc hiểu nhƣ là các hoạt động dịch vụ gắn liền với quá trình phân phối, lƣu thông hàng hóa và logistics là hoạt động thƣơng mại gắn với các dịch vụ cụ thể. Nhƣ vậy, các khái niệm khác nhau về logistics đƣợc xây dựng căn cứ vào góc độ nghiên cứu, ngành nghề và mục đích nghiên cứu về logistics hay dịch vụ logistics. Logistics là một quá trình, có nghĩa Logistics không phải là một hoạt động riêng lẻ mà là một chuỗi các hoạt động liên tục, liên quan mật thiết và tác động qua lại mật thiết với nhau, đƣợc thực hiện một cách khoa học và có hệ thống qua các bƣớc: nghiên cứu, hoạch định, tổ chức, quản lý, e 8 thực hiện, kiểm tra, kiểm soát và hoàn thiện. Logistics xuyên suốt mọi giai đoạn, từ giai đoạn đầu vào cho đến giai đoạn tiêu thụ sản phẩm cuối cùng.
Logistics liên quan đến tất cả các nguồn tài nguyên các yếu tố đầu vào cần thiết để tạo ra sản phẩm hay dịch vụ phù hợp với yêu cầu của ngƣời tiêu dùng. Theo đó, có thể kế thừa khái niệm logistics của GS. TS Đặng Đình Đào trong tài liệu “Giáo trình Kinh tế thƣơng mại” (NXB Đại học Kinh tế Quốc dân năm 2019) nhƣ sau: “Logistics là quá trình phân phối và lưu thông hàng hóa được tổ chức và quản lý khoa học việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát quá trình lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ … từ điểm khởi nguồn sản xuất đến tay người tiêu dùng cuối cùng với chi phí thấp nhất nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất xã hội tiến hành được nhịp nhàng, liên tục và đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của khách hàng”. Có thể tóm tắt nội dung cơ bản của hoạt động logistics nhƣ sau: Nguyên Vật liệu Máy móc thiết bị Quá Bao Kho Trung Khách trình bì, lƣu tâm hàng Bán thành phẩm sản đóng trữ phân xuất gói thành phối Dịch vụ phẩm … Dòng lƣu thông hàng hóa Dòng lƣu thông thông tin Cung ứng Quản lý vật tƣ Phân phối Dịch vụ Logistics Hình 1.1: Nội dung cơ bản của dịch vụ logistics e 9 1.
Phân loại dịch vụ logistics Có nhiều cách phân loại dịch vụ logistics khác nhau căn cứ vào các tiêu chí khác nhau. Theo phƣơng thức khai thác hoạt động Logistics: - Logistics bên thứ nhất (1PL: 1st Party Logistics): Các công ty đƣợc coi là Logistics bên thứ nhất (Logistics tự cấp) khi tự tổ chức và thực hiện việc vận chuyển hàng hóa của mình từ nơi xuất xứ đến nơi mới. Công ty sở hữu các phƣơng tiện vận tải, nhà xƣởng, thiết bị xếp dỡ và các nguồn lực khác bao gồm cả con ngƣời để thực hiện các hoạt động logistics. - Logistics bên thứ hai (2PL: 2nd Party Logistics): Là những ngƣời cung cấp dịch vụ vận chuyển hàng hóa ở một khâu, một bộ phận cụ thể của chuỗi hoạt động logistics nhằm đáp ứng nhu cầu của chủ hàng.
Các nhà cung cấp dịch vụ logistics bên thứ hai có thể sở hữu hoặc đi thuê phƣơng tiện và cơ sở hạ tầng để phục vụ cho công việc vận chuyển của họ, đảm nhận vai trò vận chuyển của một giai đoạn cụ thể hoặc đảm nhận một khía cạnh nhỏ trong toàn bộ chuỗi logistics của khách hàng. - Logistics bên thứ ba (3PL: 3rd Party Logistics): Công ty sử dụng các công ty bên ngoài để thực hiện các hoạt động logistics, có thể là toàn bộ quá trình quản lý logistics hoặc chỉ một số hoạt động có chọn lọc. Các nhà cung cấp dịch vụ Logistics bên thứ ba đƣợc gọi chung là các nhà cung cấp bên ngoài, là ngƣời thay mặt cho chủ hàng quản lý và thực hiện các dịch vụ logistics cho từng bộ phận. Các công ty sử dụng 3PL và nhà cung cấp dịch vụ logistics có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm thực chia sẻ thông tin, rủi ro, và các lợi ích theo một hợp đồng dài hạn.
- Logistics bên thứ tư (4PL:4th Party Logistics): Là sự hợp nhất, gắn kết các nguồn lực, tiềm năng và cơ sở vật chất kỹ thuật của mình với các tổ e 10 chức khác để thiết kế, xây dựng và vận hành các giải pháp chuỗi logistics.4PL là một dịch vụ quản lý logistics, đóng vai trò điều phối viên cho các dịch vụ khác nhau, bao gồm thiết kế, xây dựng và thực hiện các giải pháp chuỗi cung ứng. Nhà cung cấp dịch vụ Logistics bên thứ tƣ làm việc với nhiều nguồn lực, bao gồm 3PL, để quản lý lập kế hoạch và công nghệ cho hệ thống logistics của khách hàng. Mục tiêu của 4PL là cung cấp giá trị trên toàn bộ chuỗi cung ứng, không chỉ một phân khúc trong chuỗi để vƣơn tới thị trƣờng toàn cầu, lợi thế chiến lƣợc và các mối quan hệ lâu bền. - Logistics bên thứ năm (5PL:5th Party Logistics): Là loại dịch vụ thị trƣờng thƣơng mại điện tử, bao gồm các 3PL và 4PL quản lý tất cả các bên liên quan trong chuỗi phân phối.
5PL quản lý và điều phối các hoạt động của 3PL và 4PL thông qua các giải pháp thông tin liên quan đến cung và cầu trên thị trƣờng giao hàng thƣơng mại điện tử. Nhà cung cấp dịch vụ Logistics bên thứ năm sẽ tổng hợp các nhu cầu của 3PL và các loại hình khác thành khối lƣợng lớn để có đƣợc mức giá tốt hơn dựa vào các hệ thống (Hệ thống quản lý đơn hàng (OMS), Hệ thống quản lý kho hàng (WMS) và Hệ thống quản lý vận tải (TMS)). Theo tính chuyên môn hóa của các doanh nghiệp logistics: - Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ vận tải: Bao gồm (1) Các công ty cung cấp dịch vụ vận tải đơn phƣơng thức, chỉ cung cấp một loại phƣơng tiện vận tải; (2) Các công ty cung cấp dịch vụ vận tải đa phƣơng thức, cung cấp từ hai loại phƣơng tiện vận tải trở lên trong quá trình vận chuyển; (3) Các công ty cung cấp dịch vụ khai thác cảng; (4) Các công ty môi giới vận tải. - Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ phân phối: Gồm các công ty cung cấp dịch vụ kho bãi; Các công ty cung cấp dịch vụ phân phối, bán buôn bán lẻ.
- Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ hàng hóa: Gồm các công ty môi giới khai thuê hải quan; Các công ty giao nhận, gom hàng lẻ; Các công ty chuyên e 11 ngành hàng nguy hiểm (hóa chất); Các công ty dịch vụ đóng gói vận chuyển. - Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics chuyên ngành: gồm các công ty công nghệ thông tin; Các công ty viễn thông; Các công ty cung cấp giải pháp tài chính, bảo hiểm;…. Theo quá trình thực hiện, có thể phân biệt các loại hình logistics: - Logistics đầu vào: bao gồm các hoạt động nhằm đảm bảo cung ứng một cách tối ƣu (cả về vị trí, thời gian và chi phí) các đầu vào (nguyên vật liệu, vốn, thông tin,.) cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp - Logistics đầu ra: bao gồm các hoạt động đảm bảo cung ứng sản phẩm đến tay khách hàng một cách tối ƣu cả về vị trí, thời gian và chi phí nhằm đáp ứng các mục tiêu của doanh nghiệp.