CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LY LUAN CO BAN QUAN LY NHA NUOC VE BẢO TRỢ XÃ HỘI 1. KHÁI QUÁT QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TRỢ XÃ HỘI 1. Khái niệm bảo trợ xã hội và quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội: Theo từ điển Tiếng Việt cụm từ “8ảo ứợ” có nghĩa là giúp đỡ cho tổ chức hoặc cá nhân có khó khăn về vật chất trong cuộc sống. Còn cụm từ “Trợ.
giúp” có nghĩa giúp đỡ về vật chất cho đỡ khó khăn, thiếu thốn. Hai thuật ngữ “bảo trợ xã hội ” và “trợ giúp xã hội ” có nghĩa gần tương đồng nhau tuy nhiên trong các văn bản, sách báo và giáo trình hiện nay phần lớn sử dụng, thuật ngữ “œợ giúp xã hội”. Các văn bản pháp luật về bảo trợ xã hội hiện hành sử dụng cụm từ “ợ giúp xã hội thường xuyên ” thay cho “bảo trợ xã hội thường xuyên " hay “cứu tế xã hội thường xuyên ”. Theo khái niệm của Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF): Bảo trợ xã hội bao gồm một loạt các chính sách và chương trình cần thiết để giảm hậu quả trong cuộc sống nghèo đói và khó khăn của người dân, hay những thiếu thốn không những về vật chất mà còn là tinh thần.
Các chương trình hay được tổ chức như: chuyển tiền mặt hỗ trợ cho trẻ em khó khăn, giúp phát triển kỳ năng sống và hơn thế nữa giúp kết nối các gia đình với chăm sóc sức khỏe, thực phẩm bổ dưỡng và giáo dục chất lượng đề cung cấp cho tắt cả trẻ em, bất kể chúng sinh ra trong hoàn cảnh nào, một cơ hội công bằng trong cuộc sóng. Hệ thống BTXH Việt Nam bao gồm ba trụ cột: bảo trợ xã hội thường. xuyên, chăm sóc xã hội và trợ giúp khẩn cấp. Bảo trợ xã hội thường xuyên là sự trợ giúp của Nhà nước, các tổ chức đoàn thể, cộng đồng về vật chất và tỉnh thần cho những đối tượng xã hội có (gọi là đối tượng bảo trợ xã hội) không tự lo được cuộc sống (một hoặc nhiều 14 năm) để họ ôn định cuộc sóng, hoà nhập công đồng xã hội và phát triển.
Chăm sóc xã hội là hoạt động cung cấp dịch vụ công tác xã hội chăm. sóc sức khỏe tinh thần cho những người bị khủng hoảng, rồi loạn hay mat can bằng tạm thời hay lâu dài về mặt tâm lý; nuôi dưỡng chăm sóc các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn và cung cấp các dịch vụ khác. Trợ giúp khẩn cấp là sự trợ giúp của Nhà nước, các tô chức đoàn thể, cộng đồng về vật chất và tinh thần cho những đối tượng xã hội có hoàn cảnh khó khăn đột xuất do thiên tai, hỏa hoạn hoặc lý do bất khả kháng khác, không tự lo được cuộc sống và hoà nhập công đồng. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (1999), bảo trợ xã hội là “hệ thống các chính sách, chế độ, hoạt động của chính quyển các cấp và hoạt động của cộng đồng xã hội dưới các hình thức và biện pháp khác nhau, nhằm giúp các đối tượng thiệt thỏi, yêu thể hoặc gặp bắt hạnh trong cuộc sống có điều kiện tôn tại và có cơ hội hoà nhập với cuộc sống chung của cộng đồng, góp phần bảo đảm ổn định và công bằng xã hội”.
Ở tại Việt Nam bảo trợ xã hội có thể hiểu là sự giúp đỡ của Nhà nước, xã hội, công đồng bằng những biện pháp và các hình thức khác nhau đối với các đối tượng bị lâm vào cảnh rủi ro, bất hạn, nghèo đói. vì nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến không đủ khả năng tự lo liệu được cho cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình, nhằm giúp họ tránh được mối đe dọa của cuộc sống thường nhật hoặc giúp họ vượt qua những khó khăn, ôn định cuộc sống và hòa nhập cộng đồng. Như vậy, có thể hiểu bảo trợ xã hội là hệ thống các biện pháp, hoạt động trợ giúp bảo đảm của Nhà nước và xã hội đối với các đối tượng bảo trợ xã hội, những người bị thiệt thòi, yếu thế hoặc gặp bắt hạnh trong cuộc sống. nhằm giúp họ giảm bớt phần nào những khó khăn trước mắt và lâu dài trong cuộc sống.
15 Qua các định nghĩ: về bảo trợ xã hội, chúng ta nhận thấy cần có sự chung tay vào cuộc của cả hệ thống chính trị và cụ thể là nhà nước trong việc đảm bảo sự an toàn về đời sống của người dân khi họ rơi vào hoàn cảnh khó khăn mà tự bản thân họ không thể hoặc rất khó để tự khắc phục được. Để làm rõ khái niệm quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội, trước hết cần làm rõ khái niệm quản lý nhà nước. Quản lý nhà nước là hoạt động thực thì quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước thực hiện nhằm xác lập một trật tự ổn định và phát triển xã hội theo những mục tiêu mà tầng lớp cầm quyền theo đuôi. Quản lý nhà nước được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm toàn bộ hoạt động của cả bộ máy nhà nước từ lập pháp, hành pháp đến tư pháp vận hành như một thực thể ống nhất.
Theo nghĩa hẹp là hướng dẫn chấp pháp, điều hành, quản lý hành chính do cơ quan hành pháp thực hiện bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước. Quản lý tài sản là quá trình quản lý nhà nước bắt đầu từ việc xác định mục tiêu đến khi đạt được hiệu quả thực tế, tạo thành một chu kì quản lý, liên tục nối tiếp nhau. Quản lý xuất hiện trong mọi tổ chức, tập thể có hoạt động chung. Chủ thể quản lý nhà nước là cơ quan hay cá nhân có thắm quyền trong.
bộ máy nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để quản lý. Pháp luật là công cụ chủ yếu của quản lý nhà nước. Đối tượng quản lý nhà nước là các cơ quan, tô chức, cá nhân trong một quốc gia, là sinh hoạt, đời sống của xã hội diễn ra trên từng lĩnh vực. Quản lý nhà nước được giới hạn trong phạm vi lãnh thổ quốc gia và được phân biệt với quản lý mang tính chất nội bộ một tổ chức xã hội, đoàn thể, đơn vị, xí nghiệp, một công đồng dân cư mang tính tự quản.
Thue chat của sự tác động của nhà nước tới cá nhân là sự tác động của 16 quyền lực nhà nước tới đối tượng của mình. Một trong những đặc trưng chủ yếu của nhà nước là nhà nước thiết lập và thực thi quyền lực công khai bao. trùm lên toàn xã hội. Quyền lực nhà nước tác động tới mọi cá nhân trong xã hội thông qua bộ máy nhà nước và bằng các hoạt động của nhà nước trong.
xây dựng pháp luật, tô chức thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật. Thông qua hoạt động xây dựng pháp luật, nhà nước chuyên ý chí, lợi ích, nguyện vọng của mình thành những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc. chung đối với mọi cá nhân trong xã hội khi các cá nhân đó ở vào điều kiện, hoàn cảnh, tình huống mà nhà nước đã dự liệu từ trước. Nội dung của pháp luật luôn xác định những hành vi mà cá nhân được thực hiện, không được thực hiện và phải thực hiện nhằm đáp ứng lợi ích và yêu cầu của nhà nước, của xã hội.; quy định những biện pháp tác động của nhà nước đối với những cá nhân không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các yêu cầu của pháp luật.
Từ những nghiên cứu nêu trên về bảo trợ xã hội và khái niệm về quản lý nhà nước, ta có thể hiểu: Quán lý nhà nước về bảo trợ xã hội là quá trình tác động có tổ chức và bằng các cơ chế, chính sách, các giải pháp của Nhà nước, thể hiện quyên lực của Nhà nước nhằm hạn chế, phòng ngừa và khắc phục rủi ro cho các thành viên trong cộng đồng do bị mắt hoặc giảm thu nhập bởi các nguyên nhân khác nhau. Đặc điểm của bảo trợ xã hội ảnh hướng đến công tác quản lý Bảo trợ xã hội mang tính nhân đạo, thể hiện truyền thối ø, tương thân, tương ái, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau. Ngay từ khi ra đời cho đến nay, an sinh xã hội nói chung và bảo trợ xã hội nói riêng đã được đón nhận như một sự đảm bảo cho cuộc sống và đặc biệt có ý nghĩa đối với một bộ phận thành viên xã hội, bộ phận “người yếu thế”. Là sự bảo vệ phô cập và đồng nhất đối với mọi thành viên xã hội trên cơ sở sự tương trợ cộng đồng, chia sẻ rủi ro, bảo.
17 trợ xã hội là hoạt động mang đậm tính nhân đạo, có ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội và pháp luật. Thực hiện mục đích xã hội vì cộng đồng, không vì lợi nhuận. Thực tế ở VN cho thấy khi chúng ta gặp phải những khó khăn bất thường như thiên tai, lũ lụt hay khủng hoảng kinh tế thì khả năng đáp ứng đầy đủ và thỏa đáng các chương trình ASXH dành cho người dân nhất là bộ phận dân cư nghèo là thách thức lớn mà ngay cả nhà nước ta cũng khó vượt qua một cách hoàn hảo. Do đó việc mở rộng các hoạt động bảo trợ xã hội ra phạm vi toàn xã hội , huy.
động các nguồn vật lực từ cộng đồng trong nước và tranh thủ sự giúp đỡ của cộng đồng nước ngoài thông qua hoạt động nhân đạo và từ thiện. trên cơ sở thực hiện mục đích xã hội, không vì mục đích kinh doanh, không vì mục đích lợi nhuận. Bảo trợ xã hội là quyền của mỗi thành viên trong xã hội, là trách nhiệm, nhiệm vụ của cộng đồng. Với quan niệm con người sinh ra có các quyền sống và bảo đảm các quyền cơ bản của con người, Nhà nước cần có biện pháp hỗ trợ những cá nhân không có năng lực thực hiện các quyên, tự bảo đảm nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sống.
Bảo trợ xã hội là sự can thiệp để các cá nhân thực hiện các nhu cầu cơ bản. Nhà nước là bảo vệ sự an toan cho tắt cả các thành viên trong xã hội trước các nguy cơ bị suy giảm hoặc mắt đi các khoản thu nhập trước những tác động tiêu cực của nền kinh tế - xã hội hay thiên tai, địch hoạ. Bảo trợ xã hội phụ thuộc vào nền kinh tế của địa phương, sự đóng góp. của các bên, sự trợ giúp xã hội và sự chia sẻ của công đồng.
Chính sách bảo.