Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Cơ sở lý luận về quản lý dự án đầu tư xây dựng từ nguồn vốn ngân sách nhà nước 1. Dự án đầu tư xây dựng từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước 1. Một số khái niệm liên quan a) Khái niệm dự án đầu tư - Theo Nghị định 42/CP ngày 16/07/1996 của Chính phủ về việc ban hành điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng thì: “Dự án đầu tư là tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng, hoặc cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong khoảng thời gian xác định” (Nghị định 42/CP, 1996).
- Theo Nghị định 88/CP ngày 01/09/1999 của Chính phủ về việc ban hành quy chế đấu thầu thì: “Dự án là tập hợp những đề xuất để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc, mục tiêu hoặc yêu cầu nào đó” (Nghị định 88/CP, 1999). - Theo Luật Đầu tư năm 2005 thì “Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định” (Luật Đầu tư 2005). - Theo Luật Đầu tư năm 2014 thì “Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định” (Luật Đầu tư 2014). Theo nghĩa chung nhất có thể định nghĩa dự án đầu tư như sau: Dự án đầu tư là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ cần phải được thực hiện với phương pháp riêng, nguồn lực riêng và theo một kế hoạch tiến độ nhằm tạo ra thực thể mới.
6 b) Khái niệm dự án đầu tư xây dựng Tại Điều 3, Luật Xây dựng được Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa 13 thông qua ngày 18 tháng 06 năm 2014 thì dự án đầu tư xây dựng được định nghĩa như sau: “Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định. Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng” (Luật Xây dựng, 2014). Dự án đầu tư xây dựng bao gồm phần thuyết minh và phần thiết kế cơ sở. - Phần thuyết minh được lập tuỳ theo loại dự án đầu tư xây dựng, bao gồm các nội dung chủ yếu sau: Mục tiêu, địa điểm, quy mô, công suất, công nghệ, các giải pháp kinh tế - kỹ thuật, nguồn vốn và tổng mức đầu tư, chủ đầu tư và hình thức quản lý dự án, hình thức đầu tư, thời gian, hiệu quả, phòng, chống cháy, nổ, đánh giá tác động môi trường.
- Phần thiết kế cơ sở được lập phải phù hợp với từng dự án đầu tư xây dựng, bao gồm thuyết minh và các bản vẽ thể hiện được các giải pháp về kiến trúc; kích thước, kết cấu chính; mặt bằng, mặt cắt, mặt đứng; các giải pháp kỹ thuật, giải pháp về xây dựng; công nghệ, trang thiết bị công trình, chủng loại vật liệu xây dựng chủ yếu được sử dụng để xây dựng công trình. c) Khái niệm dự án đầu tư xây dựng từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước Ngân sách Nhà nước được hiểu là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Từ các khái niệm về dự án đầu tư xây dựng và khái niệm ngân sách Nhà nước nêu trên, có thể hiểu: Dự án đầu tư xây dựng từ nguồn vốn ngân 7 sách Nhà nước là dự án được thực hiện bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước mà nguồn này hình thành từ các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật và được phân bổ cho các hoạt động nhằm phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy Nhà nước; chi trả nợ của Nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật. Dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước khác với các dự án đầu tư khác không sử dụng vốn ngân sách Nhà nước là các dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước chủ yếu là những dự án đầu tư vào lĩnh vực kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh không có khả năng thu hồi vốn (đầu tư xây dựng cơ bản).
Mục tiêu của dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước là hướng tới mục tiêu chung của toàn xã hội nên đối tượng thụ hưởng của những dự án này có quy mô lớn. Đặc biệt là những dự án trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng của một đất nước thì đối tượng thụ hưởng ở đây là toàn bộ người dân trong đất nước đó và cả những tổ chức, cá nhân nước ngoài sống và làm việc trên lãnh thổ nước đó. Đặc điểm sản phẩm của dự án đầu tư xây dựng từ nguồn vốn NSNN * Đặc điểm sản phẩm của dự án đầu tư xây dựng - Sản phẩm xây dựng mang tính cá biệt, đơn chiếc Sản phẩm xây dựng mang tính đơn chiếc vì phụ thuộc vào đơn đặt hàng của người mua (chủ đầu tư), vào điều kiện địa lý, địa chất công trình nơi xây dựng. Sản phẩm xây dựng mang nhiều tính cá biệt, đa dạng về công dụng, cấu tạo và phương pháp sản xuất, chế tạo.
Vì vậy, hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật, các quy trình quy phạm, công nghệ thi công rất đa dạng và phức tạp. - Sản phẩm được xây dựng và sử dụng tại chỗ Sản phẩm xây dựng là các công trình được xây dựng và sử dụng tại 8 chỗ. Vốn đầu tư xây dựng lớn, thời gian xây dựng cũng như thời gian sử dụng lâu dài. Vì tính chất này nên khi tiến hành phải chú ý ngay từ khâu quy hoạch, lập dự án, chọn địa điểm xây dựng, khảo sát thiết kế và tổ chức thi công xây lắp công trình sao cho hợp lý, tránh phá đi làm lại hoặc sửa chữa dẫn đến không đảm bảo thời gian hoàn thành công trình, gây thiệt hại cho chủ đầu tư, nhà thầu và giảm tuổi thọ công trình.
- Sản phẩm xây dựng có kích thước và trọng lượng lớn Sản phẩm xây dựng thường có kích thước và trọng lượng lớn. Số lượng, chủng loại vật tư, thiết bị máy thi công, và hao phí lao động cho mỗi công trình cũng rất khác nhau, luôn thay đổi theo tiến độ thi công. Công tác giám sát chất lượng của nguyên vật liệu, cấu kiện, máy móc thiết bị thi công gặp nhiều khó khăn. Giá thành sản phẩm xây dựng rất phức tạp, thường xuyên thay đổi theo từng khu vực, từng thời kì gây khó khăn cho công tác khống chế giá thành xây dựng.
- Sản phẩm xây dựng liên quan đến nhiều ngành, đến môi trường tự nhiên và cộng đồng dân cư Sản phẩm xây dựng liên quan đến nhiều ngành cả về phương diện cung cấp các yếu tố đầu vào, thiết kế, chế tạo sản phẩm và về cả phương diện sử dụng công trình. Sản phẩm xây dựng ảnh hưởng nhiều đến cảnh quan và môi trường tự nhiên do đó liên quan nhiều đến lợi ích cộng đồng nhất là với dân cư địa phương nơi đặt công trình. Từ đó, vấn đề vệ sinh và bảo vệ môi trường được đặc biệt quan tâm trong xây dựng công trình. - Sản phẩm xây dựng thể hiện trình độ phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội từng thời kì Sản phẩm xây dựng mang tính tổng hợp về kỹ thuật, kinh tế, văn hóa, xã hội và quốc phòng.
Sản phẩm xây dựng chịu nhiều ảnh hưởng của nhân tố kiến trúc thượng tầng, mang bản sắc văn hóa dân tộc và thói quen tập quán sinh hoạt của dân cư (Từ Quang Phương, 2012). Chu kì của dự án đầu tư xây dựng từ nguồn vốn NSNN Chu kỳ của một dự án đầu tư là các bước hoặc các giai đoạn mà một dự án phải trải qua, bắt đầu tư khi một dự án mới chỉ là ý đồ đến khi dự án hoàn thành và kết thúc hoạt động. Quá trình hình thành và thực hiện dự án đầu tư trải qua 3 giai đoạn: chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và vận hành các kết quả đầu tư. Giai đoạn 3 Giai đoạn 1 Giai đoạn 2 Vận hành Chuẩn bị đầu tư Thực hiện đầu tư kết quả đầu tư Sơ đồ 1.1: Chu kỳ của một dự án đầu tư (Nguồn: Giáo trình Lập dự án đầu tư, 2012) - Giai đoạn 1: Chuẩn bị đầu tư, gồm các công việc sau + Nghiên cứu phát hiện các cơ hội đầu tư.
Đây là giai đoạn hình thành dự án, là bước nghiên cứu sơ bộ nhằm xác định triển vọng đem lại hiệu quả và sự phù hợp với thứ tự ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của vùng, của đất nước. Nội dung nghiên cứu cơ hội đầu tư là xem xét nhu cầu, khả năng cho việc tiến hành một công cuộc đầu tư, các kết quả và hiệu quả sẽ đạt được nếu thực hiện đầu tư. + Nghiên cứu tiền khả thi (sơ bộ lựa chọn dự án). Đây là bước nghiên cứu tiếp theo của các cơ hội đầu tư có nhiều triển vọng đã được lựa chọn có quy mô đầu tư lớn, phức tạp về mặt kỹ thuật, thời gian thu hồi vốn lâu, có nhiều yếu tố bất định tác động.
Bước này nghiên cứu sâu hơn các khía cạnh mà khi xem xét cơ hội đầu tư còn thấy phân vân chưa chắc chắn, nhằm tiếp tục lựa chọn, sàng lọc các cơ hội đầu tư (đã được xác định ở cấp độ ngành, vùng hoặc cả nước) hoặc để khẳng định lại cơ hội đầu tư đã được lựa chọn có đảm bảo tính khả thi hay không. + Nghiên cứu khả thi (lập dự án, luận chứng kinh tế kỹ thuật).