Chương 1 luật NSNN năm 2015). - Phân cấp quản lý NSNN: NSNN đƣợc phân chia thành hai hệ thống e 7 NSTW và NSĐP (bao gồm ngân sách cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã), gắn với quyền hạn và trách nhiệm các cấp hành chính đƣợc phân công, phân cấp trong hệ thống bộ máy nhà nƣớc. Xét về mặt bản chất, sự phân định ngân sách thành các cấp ngân sách mang tính tƣơng đối so với tính thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ và cân đối tổng thể trên phạm vị toàn quốc gia của NSNN. Đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước Theo Luật Đầu tƣ số 39/2019/QH14 của Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tại Điều 3 - Giải thích từ ngữ, khái niệm đầu tƣ đƣợc hiểu: “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”.
- Đầu tư xây dựng cơ bản: Hoạt động đầu tƣ cơ bản thực hiện bằng cách tiến hành xây dựng để tạo ra các TSCĐ đƣợc gọi là đầu tƣ XDCB. Đầu tƣ xây dựng cơ bản là hoạt động chủ yếu tạo ra tài sản cố định đƣa vào hoạt động trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, nhằm thu đựơc lợi ích với nhiều hình thức khác nhau. Đầu tƣ xây dựng cơ bản trong nền kinh tế quốc dân đƣợc thực hiện thông qua các dự án đầu tƣ xây dựng cơ bản với nhiều hình thức nhƣ: xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, hiện đại hoá hay khôi phục tài sản cố định cho nền kinh tế. - Dự án đầu tư xây dựng cơ bản là một tập hợp những đề xuất việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo, nâng cấp những đối tƣợng nhất định nhằm đạt đƣợc sự tăng trƣởng về số lƣợng, cải tiến hoặc nâng cao chất lƣợng sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một khoảng thời gian xác định.
Theo quy định tại khoản 13, Điều 4, Luật Đầu tƣ công số 39/2019/QH14 của Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Dự án đầu tƣ xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nƣớc là dự án đầu e 8 tƣ sử dụng toàn bộ hoặc một phần vốn đầu tƣ ngân sách nhà nƣớc. Lĩnh vực đầu tƣ xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nƣớc: - Đầu tƣ chƣơng trình, dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. - Đầu tƣ phục vụ hoạt động của cơ quan nhà nƣớc, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội. - Đầu tƣ và hỗ trợ hoạt động cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích.
- Đầu tƣ của nhà nƣớc tham gia thực hiện dự án theo hình thức đối tác công tƣ. Quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước Khái niệm quản lý nhà nước. Quản lý nhà nƣớc xuất hiện cùng với sự ra đời của nhà nƣớc, đó là quản lý toàn xã hội. Nội hàm của quản lý nhà nƣớc thay đổi phụ thuộc vào chế độ chính trị, lịch sử và đặc điểm văn hóa trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia qua các giai đoạn lịch sử.
Xét về mặt chức năng, quản lý nhà nƣớc gồm 3 chức năng: Thứ nhất, chức năng lập pháp do các cơ quan lập pháp thực hiện; thứ hai, chức năng hành pháp do các cơ quan hành pháp thực hiện; và thứ ba, chức năng tƣ pháp do các cơ quan tƣ pháp thực hiện. Trong hệ thống xã hội có nhiều chủ thể tham gia quản lý xã hội nhƣ: Tổ chức chính trị, nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế, các đoàn thể nhân dân, các hiệp hội… So với các tổ chức khác thì quản lý nhà nƣớc có các đặc điểm khác nhƣ sau: Trước hết, chủ thể quản lý nhà nƣớc là các cơ quan, cá nhân trong bộ máy nhà nƣớc đƣợc trao quyền gồm: cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp, cơ quan tƣ pháp; Thứ hai, đối tƣợng quản lý nhà nƣớc là tất cả các cá nhân, tổ chức sinh sống và hoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, công dân làm việc bên e 9 ngoài lãnh thổ quốc gia. Thứ ba, quản lý nhà nƣớc là quản lý toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: Chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao; Thứ tư, quản lý nhà nƣớc mang tính quyền lực nhà nƣớc, sử dụng công cụ pháp luật nhà nƣớc, chính sách để quản lý xã hội. Thứ năm, mục tiêu quản lý nhà nƣớc là phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển toàn xã hội.
Từ các đặc điểm trên, có thể hiểu quản lý nhà nƣớc là một dạng quản lý xã hội đặc biệt mang tính quyền lực nhà nƣớc và sử dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vi cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì ổn định và phát triển xã hội. Khái niệm quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước. QLNN về đầu tƣ XDCB từ nguồn vốn NSNN ở cấp huyện là việc chính quyền cấp huyện quản lý các dự án, các công trình đầu tƣ công cộng nhằm mục tiêu phát triển KT-XH địa phƣơng với chi phí thấp nhất. Đây cũng là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nƣớc đối với các quá trình triển khai các dự án đầu tƣ xây dựng cơ bản từ nguồn vốn NSNN, do các cơ quan hành chính nhà nƣớc thực hiện nhằm tạo hành lang pháp lý và hỗ trợ các chủ đầu tƣ thực hiện đúng vai trò, chức năng, nhiệm vụ của ngƣời đại diện sở hữu nhà nƣớc trong các dự án, ngăn ngừa các hiện tƣợng tiêu cực trong việc sử dụng vốn nhà nƣớc nhằm tránh thất thoát, lãng phí NSNN.
Nguyên tắc quản lý nhà nƣớc về đầu tƣ cơ bản từ nguồn vốn NSNN * Nguyên tắc quản lý đầu tư công - Tuân thủ quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng vốn đầu tƣ công. - Phù hợp với chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 05 năm của quốc gia và quy hoạch có liên quan theo quy định của pháp luật về quy hoạch. - Thực hiện đúng trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan quản lý nhà nƣớc, tổ chức, cá nhân liên quan đến quản lý và sử dụng vốn đầu tƣ công. - Quản lý việc sử dụng vốn đầu tƣ công theo đúng quy định đối với từng nguồn vốn; bảo đảm đầu tƣ tập trung, đồng bộ, chất lƣợng, tiết kiệm, hiệu quả và khả năng cân đối nguồn lực; không để thất thoát, lãng phí.
- Bảo đảm công khai, minh bạch trong hoạt động đầu tƣ công. Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả Nguyên tắc này đòi hỏi việc phân bổ vốn đầu tƣ phải có trọng tâm, trong điểm, theo thứ tự ƣu tiên, tránh dàn trải, quy mô các dự án đầu tƣ phải hợp lý, tránh các dự án đầu tƣ có quy mô quá lớn hoặc quá nhỏ. Tổng nguồn vốn phân bổ trong kế hoạch đầu tƣ công trung hạn phải nằm trong dự toán thu-chi NSĐP trong kế hoạch tài khóa trung hạn. Tổng nguồn vốn phân bổ trong kế hoạch đầu tƣ công hằng năm phải nằm trong kế hoạch đầu tƣ công trung hạn.
Nguyên tắc tập trung, dân chủ Nguyên tắc này đòi hỏi chính quyền địa phƣơng phải là cơ quan duy nhất chỉ đạo, điều hành hoạt động đầu tƣ thuộc thẩm quyền quản lý. Bên cạnh đó, nguyên tắc này đặt ra yêu cầu việc phân bổ vốn cho các chƣơng trình, dự án đầu tƣ công phải có sự tập trung, đảm bảo chƣơng trình, dự án trong kế hoạch phân bổ phải hoàn thành trong một thời hạn nhất định (thông thƣờng, e 11 dự án nhóm B không quá 05 năm, nhóm C không quá 03 năm). Sự dân chủ của nguyên tắc thể hiện ở việc cân đối nguồn vốn và bố trí vốn trong kế hoạch phải theo những trình tự, tiêu chí rõ ràng; đảm bảo sự công khai, minh bạch để các chủ thể có liên quan biết, thực thi đúng pháp luật, thực hiện các hoạt động kiểm tra, giám sát, tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình thực hiện. Nguyên tắc kết hợp hài hòa giữa các lợi ích Nguyên tắc này đòi hỏi hoạt động đầu tƣ nói chung, kế hoạch đầu tƣ nói riêng cần đảm bảo sự hài hòa về lợi ích giữa nhà nƣớc, cộng đồng xã hội (với tƣ cách là ngƣời thụ hƣởng) và tổ chức, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế để đảm bảo sự khuyến khích, lôi kéo các thành phần này tham gia vào quá trình đầu tƣ phát triển cùng nhà nƣớc, cùng thực hiện các hoạt động kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện.
Nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo vùng và địa bàn QLNN đối với đầu tƣ tại địa phƣơng đòi hỏi sự kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo vùng và địa bàn. Quản lý theo ngành để đảm bảo đầu tƣ tuân thủ các chiến lƣợc, quy hoạch, kế hoạch phát triển của ngành, lĩnh vực. Quản lý theo vùng và địa bàn để đảm bảo sự cân đối trong đầu tƣ, sự phát triển tƣơng đối đồng đều giữa các vùng, miền (miền núi, vùng dân tộc thiểu số, đồng bằng, đô thị, nông thôn). Kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo vùng và địa bàn để tìm ra các thứ tự ƣu tiên trong đầu tƣ, đảm bảo sự cân đối về ngân sách.
Vai trò của quản lý nhà nƣớc về đầu tƣ xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nƣớc. Một là, xuất phát từ những bất cập hạn chế của quản lý nhà nƣớc về đầu tƣ XDCB từ nguồn vốn NSNN trên địa bàn cấp huyện hiện nay. Tình trạng e 12 đầu tƣ manh mún, dàn trải kém hiệu quả trong đầu tƣ XDCB từ nguồn vốn ngân sách nhà nƣớc cấp huyện, cụ thể: Đầu tƣ xây dựng cấp huyện bao gồm các công trình do huyện làm chủ đầu tƣ, các công trình do huyện quyết định đầu tƣ và các công trình do xã làm chủ đầu tƣ. Các công trình cấp xã làm chủ đầu tƣ với nguồn vốn lồng ghép bao gồm nguồn ngân sách cấp huyện, nguồn ngân sách cấp xã và nguồn do nhân dân đóng góp.