phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nƣớc về chính sách giảm nghèo bền vững ở địa phƣơng cấp huyện. Chƣơng 2: Phân tích thực trạng quản lý nhà nƣớc về chính sách giảm nghèo bền vững tại huyện An Lão, tỉnh Bình Định. Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nƣớc về chính sách giảm nghèo bền vững tại huyện An Lão, tỉnh Bình Định. e 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG Ở ĐỊA PHƢƠNG CẤP HUYỆN 1.
GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG VÀ CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 1. Tổng quan về giảm nghèo bền vững 1. Quan niệm về nghèo và nguyên nhân dẫn tới nghèo a) Quan niệm về nghèo Ở Việt Nam, nghèo đƣợc hiểu là tình trạng một bộ phận dân cƣ chỉ có điều kiện thỏa mãn một phần những nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phƣơng diện. Từ năm 1993 đến năm 2020, Việt Nam đã có 07 lần thay đổi chuẩn nghèo, các mức chuẩn nghèo của Việt Nam trong 03 giai đoạn đầu: giai đoạn 1993-1994, giai đoạn 1995-1997 và giai đoạn 1998-2000 chúng ta sử dụng mức chuẩn nghèo theo thu nhập bình quân đầu ngƣời trên tháng nhƣng đƣợc tính quy đổi bằng gạo (kg/ngƣời/tháng).
Từ năm 2000 trở đi nƣớc ta về cơ bản đã xoá đƣợc tình trạng đói, do đó mức chuẩn nghèo các giai đoạn 2001- 2005 và giai đoạn 2006-2010 vẫn đƣợc tính theo thu nhập bình quân đầu ngƣời trên tháng nhƣng đƣợc tính bằng giá trị (đồng/ngƣời/tháng).1: Chuẩn nghèo của Việt Nam qua các thời kỳ (1993-2020) Giai đoạn ĐVT Hộ đói Hộ nghèo 1. Giai đoạn 1993-1994 ≤ mức ≤ mức Vùng nông thôn kg gạo/ngƣời/tháng 8 15 Vùng thành thị kg gạo/ngƣời/tháng 13 20 2. Giai đoạn 1995-1997 Vùng nông thôn miền núi, kg gạo/ngƣời/tháng 13 15 e 9 Giai đoạn ĐVT Hộ đói Hộ nghèo hải đảo Vùng nông thôn đồng bằng, kg gạo/ngƣời/tháng 13 20 trung du Vùng thành thị kg gạo/ngƣời/tháng 13 25 3. Giai đoạn 1998-2000 Vùng nông thôn miền núi, đồng/ngƣời/tháng 45.000 hải đảo Vùng nông thôn đồng bằng, đồng/ngƣời/tháng 45.000 trung du Vùng thành thị đồng/ngƣời/tháng 45.
Giai đoạn 2001-2005 Vùng nông thôn miền núi, đồng/ngƣời/tháng 80.000 hải đảo Vùng nông thôn đồng bằng, đồng/ngƣời/tháng 100.000 trung du Vùng thành thị đồng/ngƣời/tháng 150. Giai đoạn 2006-2010 Vùng nông thôn đồng/ngƣời/tháng 200.000 Vùng thành thị đồng/ngƣời/tháng 260. Giai đoạn 2011-2015 Vùng nông thôn đồng/ngƣời/tháng 400.000 Vùng thành thị đồng/ngƣời/tháng 500. Giai đoạn 2016- 2020 Vùng nông thôn đồng/ngƣời/tháng 700.000 Vùng thành thị đồng/ngƣời/tháng 900.000 Nguồn: Bộ LĐTBXH Chuẩn nghèo là thƣớc đo, là tiêu chí để xác định đối tƣợng nghèo hay không nghèo, trên thế giới hiện đang áp dụng các hình thức chuẩn nghèo sau: - Chuẩn nghèo dựa vào thu nhập hay chi tiêu, đƣợc quy đổi thành tiền, xuất phát từ quan niệm là để thỏa mãn các nhu cầu cơ bản tối thiểu, mỗi e 10 ngƣời cần phải có một khoản thu nhập/chi tiêu ở mức độ tối thiểu để thỏa mãn các nhu cầu đó.
Chuẩn nghèo dựa vào thu nhập/chi tiêu đƣợc nhiều quốc gia sử dụng, trong đó có Việt Nam, nhằm làm cơ sở xác định đối tƣợng thụ hƣởng CS trợ giúp của Nhà nƣớc; - Chuẩn nghèo quy ra 1 USD hoặc 2 USD (theo sức mua tƣơng đƣơng) là cách WB đƣa ra nhằm để so sánh mức độ nghèo đói giữa các quốc gia, đây không phải chuẩn nghèo các quốc gia sử dụng để hoạch định CS GNBV. - Chuẩn nghèo đa chiều, là tiêu chí đo lƣờng sự thiếu hụt các nhu cầu cơ bản của mỗi con ngƣời, phụ thuộc vào điều kiện phát triển cụ thể của mỗi quốc gia, trong từng giai đoạn nhất định. Hiện nay, khái niệm nghèo đa chiều đang đƣợc các tổ chức quốc tế nhƣ UNDP, WB sử dụng để giám sát, đo lƣợng sự thay đổi về mức độ tiếp cận nhu cầu cơ bản giữa các quốc gia, thông qua các chỉ số HDI (thu nhập, tỷ lệ biết chữ, tuổi thọ) hay hiện nay là chi số MPI (chỉ số nghèo đa chiều). Chỉ số nghèo đa chiều đánh giá đƣợc một loạt các yếu tố quyết định hay những thiếu thốn, túng quẫn ở cấp độ gia đình: từ giáo dục đến những tác động về sức khỏe, đến tài sản và các dịch vụ.
Theo OPHI và UNDP, những chỉ số này cung cấp đẩy đủ hơn bức tranh về sự nghèo khổ sâu sắc so với các thang đo về thu nhập giản đơn. Thang đo này biểu lộ cả tính tự nhiên và quy mô của sự nghèo khổ ở các cấp độ khác nhau: từ cấp độ gia đình đến cấp độ khu vực, cấp độ quốc gia và cấp độ quốc tế. b) Nguyên nhân của nghèo - Những nguyên nhân khách quan: + Do xuất phát điểm của nền kinh tế thấp, là một nƣớc nông nghiệp lạc hậu, lại phải trải qua nhiều chiến tranh, bị tàn phá nặng nề, cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật và nguồn lực của Nhà nƣớc chƣa đáp ứng ngay đƣợc nhu cầu phát triển KTXH của các địa phƣơng. e 11 + Ngƣời nghèo ở nƣớc ta bị hạn chế về nguồn lực và các yếu tố sản xuất: vốn, nguồn nhân lực.
+ Ngƣời nghèo còn bị hạn chế trong việc tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản, chƣa đƣợc bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp. + Ngƣời nghèo dễ bị tổn thƣơng khi phải chịu ảnh hƣởng của thiên tai, bão lũ mất việc làm, ốm đau và các rủi ro khác. - Nguyên nhân chủ quan: + Nhận thức của ngƣời nghèo về vấn đề nghèo đói còn hạn chế, bản thân nhiều ngƣời nghèo không thể tự mình lý giải đƣợc nguyên nhân nghèo khó của mình hoặc họ không thừa nhận những nguyên nhân do bản thân họ gây ra nhƣ: đông con, lƣời biếng,. mà họ “đổ vạ” cho số phận, cơ chế.
+ Ngƣời nghèo thƣờng có trình độ học vấn thấp, không có tay nghề, ít có cơ hội tìm đƣợc việc làm tốt, ổn định nên mức thu nhập của họ thấp. + Tập quán, thói quen, canh tác sản xuất của ngƣời nghèo, nhiều vùng còn rất lạc hậu, đƣợc truyền từ đời này sang đời khác nên rất khó thay đổi, cùng với tƣ tƣởng bảo thủ, không chịu tiếp thu kiến thức, kinh nghiệm làm ăn mới khiến ngƣời nghèo không thể vƣơn lên trong phát triển sản xuất, kinh doanh… + Do quy mô hộ gia đình ở nông thôn có ảnh hƣởng đến mức thu nhập bình quân của các thành viên trong hộ nghèo. + Do tình trạng bất bình đẳng giới, lƣời lao động, mắc phải tệ nạn xã hội, nghiện ma túy,. Quan niệm và chủ trương của Việt Nam về giảm nghèo bền vững a) Quan niệm về giảm nghèo bền vững - Giảm nghèo là làm cho bộ phận dân cƣ nghèo nâng cao mức sống, từng bƣớc thoát khỏi tình trạng nghèo.
Biểu hiện ở tỷ lệ phần trăm và số lƣợng ngƣời nghèo giảm. Nói một cách cụ thể hơn, giảm nghèo là quá trình chuyển e 12 bộ phận dân cƣ nghèo lên một mức sống cao hơn. - GNBV là sự tác động của Nhà nƣớc, xã hội và sự nỗ lực của ngƣời nghèo để từng bƣớc giảm số hộ nghèo ở địa phƣơng, đồng thời hạn chế tới mức thấp nhất tình trạng tái nghèo (các hộ đã thoát nghèo không bị nghèo trở lại) và hạn chế phát sinh hộ nghèo mới trong thời kỳ ổn định chuẩn nghèo. Bản chất của GNBV là sự thoát nghèo đƣợc dựa trên nền tảng của ngƣời nghèo đƣợc trang bị và có đầy đủ nội lực tự vƣơn lên thoát nghèo, đủ sức để đề phòng và chống chịu với các tác động bất lợi đến các mặt của đời sống.
Mục tiêu của GNBV chính là đảm bảo hay duy trì thành quả giảm nghèo một cách lâu dài, bền vững. Hay nói cách khác giảm nghèo là hộ nghèo đã thoát nghèo, không tái nghèo lại. b) Chủ trương của Việt Nam về giảm nghèo bền vững Chiến lƣợc phát triển KTXH giai đoạn 2011-2020 đƣợc thông qua tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI định hƣớng: “Đẩy mạnh GNBV, nâng cao thu nhập, không ngừng cải thiện đời sống và chất lƣợng dân số của đồng bào các dân tộc thiểu số”, “thực hiện có hiệu quả CS giảm nghèo phù hợp với từng thời kỳ bền vững; đa dạng hóa các nguồn lực và phƣơng thức để bảo đảm GNBV, nhất là tại các huyện nghèo nhất và các vùng đặc biệt khó khăn”. Nghị quyết Hội nghị Trung ƣơng 5 Khóa XI ngày 01/11/2012 về một số vấn đề về CS xã hội giai đoạn 2012-2020 đã đánh giá những thành tựu quan trọng đạt đƣợc trong các lĩnh vực xã hội của nƣớc ta, “giảm nghèo” là lĩnh vực đạt đƣợc nhiều thành tựu quan trọng nhất và định hƣớng “Đẩy mạnh việc triển khai thực hiện các nghị quyết của Chính phủ và Chƣơng trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, trong đó chú trọng các CS giảm nghèo đối với các huyện nghèo, ƣu tiên ngƣời nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số thuộc huyện nghèo, xã biên giới, xã an toàn khu, xã, thôn bản đặc biệt khó khăn, vùng bãi ngang ven biển, hải đảo, thu hẹp chênh lệch về mức sống và an sinh xã hội so e 13 với bình quân cả nƣớc.
Phấn đấu đến năm 2020, thu nhập bình quân đầu ngƣời của hộ nghèo tăng trên 3,5 lần so với năm 2010, tỉ lệ hộ nghèo cả nƣớc giảm 1,5- 2%/năm; các huyện, xã có tỉ lệ nghèo cao giảm 4%/năm theo chuẩn nghèo từng giai đoạn”. Những chủ trƣơng giảm ghèo bền vững còn đƣợc thể hiện ở nhiều văn kiện khác của Đảng và đƣợc cụ thể hóa bởi hệ thống CS, pháp luật của Nhà nƣớc: 02 Nghị quyết của Quốc hội, trong đó có Nghị quyết về đẩy mạnh thực hiện mục tiêu GNBV đến năm 2020, 03 Nghị quyết của Chính phủ, 08 Nghị định của Chính phủ, 57 Quyết định của Thủ tƣớng Chính phủ, 28 Thông tƣ và Thông tƣ liên tịch; bãi bỏ 03 văn bản; nhiều địa phƣơng ban hành bổ sung CS đặc thù với mức hỗ trợ cao hơn cho địa bàn nghèo, hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo. Tổng quan về chính sách giảm nghèo bền vững 1. Khái niệm chính sách giảm nghèo bền vững Chính sách là phƣơng thức hành động đƣợc một chủ thể khẳng định và thực hiện nhằm giải quyết những vấn đề lặp đi lặp lại.
CS xác định những chỉ dẫn chung cho quá trình ra quyết định. Chúng vạch ra phạm vi hay giới hạn cho phép của các quyết định, nhắc nhở các nhà quản lý những quyết định nào là có thể và những quyết định nào là không thể.