Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nguồn vốn trong xây dựng nông thôn mới Chương 2: Thực trạng quản lý nguồn vốn trong xây dựng nông thôn mới ở huyện An Lão, tỉnh Bình Định Chương 3: Phương hướng và giải pháp quản lý hiệu quả nguồn vốn trong xây dựng nông thôn mới ở huyện An Lão, tỉnh Bình Định e 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NGUỒN VỐN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1. Xây dựng nông thôn mới và quản lý nguồn vốn xây dựng nông thôn mới 1. Khái niệm cơ bản 1. Nông thôn Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về nông thôn.
Có quan điểm cho rằng nông thôn là khu vực mà ở đó cộng đồng gắn bó với nhau, có quan hệ trực tiếp đến khai thác, sử dụng, bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên cho hoạt động nông nghiệp. Có ý kiến cho rằng dựa vào tiêu chí trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng, vùng nông thôn có cơ sở hạ tầng không phát triển bằng vùng đô thị. Có quan điểm khác cho rằng nông thôn là khu vực mà ở đó tập trung dân cư sống chủ yếu bằng sản xuất nông nghiệp, tức là nguồn sinh kế chính của dân cư trong vùng là từ suất nông nghiệp [10]. Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông dân, tập hợp dân cư này tham gia vào hoạt động kinh tế, văn hóa xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các t chức khác [21].
Theo Thông tư số 54/TT-NNPTNT ngày 21/8/ 2009 Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn thì nông thôn là phần lãnh th không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn, được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã [3]. Như vậy, nông thôn là khái niệm dùng để chỉ khu vực sinh sống chủ yếu của người nông dân với ngành sản xuất chính là nông nghiệp và được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã. Nông thôn mới Theo Nghị quyết 26-NQ/TW, ngày 05/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và các tiêu chí đánh giá nông thôn mới của Chính phủ thì NTM được hiểu là: nông thôn mà ở đó có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức t chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn n định, giàu bản sắc văn hóa, dân tộc, dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường. Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nhân - nông dân - trí thức v ng mạnh, tạo nền tảng kinh tế, xã hội và chính trị v ng chắc cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ v ng chắc nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Là nông thôn mà trong đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao, giảm dần sự cách biệt gi a nông thôn và thành thị. Nông dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, có bản lĩnh chính trị v ng vàng, đóng vai trò làm chủ NTM, chất lượng hệ thống chính trị được nâng cao theo 19 tiêu chí đánh giá quy định tại Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 17/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới. Như vậy, NTM là vùng nông thôn có diện mạo mới, sức sống mới mà ở đó kinh tế nông nghiệp phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, nông thôn văn minh, nông dân khá giả và quản lý dân chủ. Xây dựng nông thôn mới Sau 30 năm thực hiện đường lối đ i mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta đã đạt nhiều thành tựu to lớn.
Tuy e 10 nhiên, nhiều thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế: nông nghiệp phát triển còn kém bền v ng, sức cạnh tranh thấp, chuyển giao khoa học công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế. Nông nghiệp, nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng như giao thông, thủy lợi, trường học, trạm y tế, cấp nước. còn yếu kém, môi trường ngày càng ô nhiễm. Đời sống vật chất, tinh thần của người nông dân còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao, chênh lệch giàu nghèo gi a nông thôn và thành thị còn lớn làm phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc.
Không thể có một nước công nghiệp nếu nông nghiệp và nông thôn còn lạc hậu và đời sống nhân dân còn thấp. Vì vậy, xây dựng nông thôn mới là một trong nh ng nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa quê hương, đất nước. Đồng thời, góp phần cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân sinh sống ở địa bàn nông thôn. XDNTM là quá trình xây dựng kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường nông thôn nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống người dân nông thôn, phát triển hài hòa, rút ngắn khoảng cách gi a thành thị với nông thôn.
Quá trình xây dựng với vai trò chủ thể là người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và các t chức khác [23]. XDNTM là một chính sách về một mô hình phát triển cả về nông nghiệp và nông thôn, nên vừa mang tính t ng hợp, bao quát nhiều lĩnh vực, vừa đi sâu giải quyết nhiều vấn đề cụ thể, đồng thời giải quyết các mối quan hệ với các chính sách khác, các lĩnh vực khác trong sự tính toán, cân đối mang tính t ng thể, khắc phục tình trạng rời rạc hoặc duy ý chí [28]. XDNTM là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng cộng đồng xã hội văn minh, có kết cấu hạ tầng KT-XH ngày càng hoàn thiện; cơ cấu kinh tế hợp lý, các hình thức t chức sản xuất tiên tiến; gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, e 11 dịch vụ và du lịch; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; từng bước thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; xây dựng xã hội nông thôn dân chủ, n định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; trình độ dân trí được nâng cao; môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị cơ sở v ng mạnh; an ninh trật tự được gi v ng; đời sống vật chất, tinh thần của người dân không ngừng được cải thiện và nâng cao. Nguồn vốn và quản lý nguồn vốn trong xây dựng nông thôn mới 1.
Nguồn vốn trong xây dựng nông thôn mới Vốn là một phạm trù kinh tế cơ bản, chỉ khối lượng của cải mà lao động của con người tạo ra, được tích lũy lại và đưa vào quá trình sản xuất, lưu thông nhằm mục đích mang lại khối lượng của cải lớn hơn lúc ban đầu. Do đó, vốn có thể tồn tại dưới hình thái một khối lượng tiền tệ nào đó; hoặc là toàn bộ các yếu tố đầu vào được bố trí để sản xuất hàng hoá, dịch vụ như máy móc, thiết bị, nhà xưởng, các kiến thức kinh tế, kỹ thuật của doanh nghiệp được tích luỹ, chất lượng nguồn nhân lực quản lý và sản xuất của doanh nghiệp, thương hiệu của doanh nghiệp. Tùy theo nhu cầu quản lý và phân tích khác nhau sẽ dẫn đến các cách hiểu và quan niệm khác nhau về vốn. Vốn thực hiện Chương trình XDNTM là nguồn lực tài chính được huy động từ các đối tượng trong xã hội được dùng để thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới theo các quy định.
Nguồn vốn thực hiện Chương trình XDNTM bao gồm: Thứ nhất, Các nguồn vốn từ ngân sách phục vụ Chương trình XDNTM (bao gồm ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương): Nguồn vốn bố trí trực tiếp cho Chương trình XDNTM; nguồn vốn từ các chương trình mục tiêu quốc gia và các chương trình, dự án hỗ trợ có mục tiêu đang triển khai và sẽ tiếp tục triển khai trên địa bàn trong nh ng năm tiếp theo; nguồn vốn trái phiếu Chính phủ (nếu có) để đầu tư các dự án, chương trình theo Nghị quyết e 12 của Quốc hội. Nguồn vốn từ NSNN được xem là nguồn vốn quan trọng góp phần tạo ra bộ khung về hạ tầng kinh tế - xã hội ở nông thôn; tạo tiền đề vật chất giải quyết các vấn đề xã hội ở nông thôn; tạo tiền đề để triển khai các chương trình khuyến nông, lâm, ngư nghiệp và các công trình nghiên cứu, triển khai ứng dụng khoa học công nghệ cho phát triển nông nghiệp, nông thôn; tạo tiền đề để thu hút đầu tư, thúc đẩy các thành phần kinh tế đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Thứ hai, nguồn vốn từ tín dụng phục vụ Chương trình XDNTM (bao gồm tín dụng đầu tư phát triển và tín dụng thương mại): Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước đây là mảng tín dụng ưu đãi do Ngân hàng chính sách xã hội và Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn thực hiện; vốn tín dụng thương mại đây là mảng tín dụng thông thường do Ngân hàng thương mại, quỹ tín dụng nhân dân thực hiện. Hiện nay, các t chức tín dụng không có cơ chế cho vay riêng với Chương trình XDNTM, mà thực hiện cơ chế tín dụng chung tham gia phục vụ Chương trình XDNTM đó là các khách hàng thuộc lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.
Vì vậy, nguồn vốn tín dụng đóng vai trò tích cực trong phát triển nông nghiệp, nông thôn, đặc biệt là thúc đẩy kinh tế hộ và kinh tế trang trại, đóng góp rất lớn vào công tác xóa đói, giảm nghèo. Thứ ba, nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp, hợp tác xã: là vốn đầu tư xây dựng các công trình công cộng có thu phí để thu hồi vốn như: Chợ, công trình cấp nước sạch, điện, thu dọn và xử lý rác thải, cầu, bến phà,.; đầu tư kinh doanh các cơ sở sản xuất chế biến nông sản, thực phẩm, cung cấp dịch vụ như: kho hàng, trang trại, nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi,.; đầu tư trong nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, t chức đào tạo và hướng dẫn bà con tiếp cận kỹ thuật tiên tiến và t chức sản xuất.