Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGUỒN KINH PHÍ SỰ NGHIỆP KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUỒN KINH PHÍ SỰ NGHIỆP KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 1. Ngân sách nhà nước và kinh phí sự nghiệp khoa học & công nghệ 1.1 Ngân sách nhà nước và chi Ngân sách nhà nước Ngân sách nhà nước huy động và tập trung một bộ phận các nguồn tài chính trong xã hội dưới các hình thức như: Thuế và các khoản thu không mang tính chất thuế, vay nợ của chính phủ trong và ngoài nước, viện trợ quốc tế. Qua phương thức chi: Nhà nước sử dụng NSNN để cấp phát vốn, kinh phí, tài trợ về vốn cho các tổ chức kinh tế, các đơn vị hành chính sự nghiệp… nhằm thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ. Như vậy, NSNN gắn liền hoạt động của Nhà nước, là một trong những công cụ hết sức quan trọng, không thể thiếu được nhằm đảm bảo hoạt động của Nhà nước.
Khi nói về ngân sách nhà nước, có nhiều cách định nghĩa khác nhau về ngân sách nhà nước (NSNN). Khái niệm về NSNN được hiểu đầy đủ theo quy định tại Điều 4 Luật ngân sách nhà nước năm 2015 : “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước”. Thực chất, Ngân sách nhà nước phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước trên cơ sở luật định. Ngân sách nhà nước (NSNN) là khâu cơ bản, chủ đạo của tài chính nhà nước, là nguồn tài chính tập trung quan trọng nhất trong hệ thống tài chính quốc gia.
NSNN tác động trực tiếp đến việc tăng quy mô đầu tư, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển. Thông qua việc phân bổ NSNN, Nhà nước thực hiện việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế, thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế nhằm phát triển bền vững và không ngừng 6 nâng cao hiệu quả kinh tế, xã hội. Điều đó cho thấy việc phân bổ sử dụng có hiệu quả vốn NSNN của quốc gia nói chung và của các địa phương nói riêng có ý nghĩa hết sức quan trọng giúp Chính phủ và chính quyền các cấp thực hiện tốt các mục tiêu tăng trưởng kinh tế, xã hội của mình. Theo TS Đặng Văn Du, “Chi Ngân sách nhà nước là quá trình phân phối, sử dụng quỹ NSNN do quá trình thu, tạo lập nên nhằm duy trì sự tồn tại, hoạt động bình thường của bộ máy nhà nước và thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước.
Chi thường xuyên NSNN là những khoản chi phát sinh tương đối đều đặn cả về mặt thời gian và quy mô các khoản chi. Nói cách khác là những khoản chi được lặp đi lặp lại tương đối ổn định theo những chu kỳ thời gian cho những đối tượng nhất định [2]”. Chi thường xuyên của NSNN chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng chi NSNN (chiếm khoảng 70%) do đó hoạt động này liên quan đến nhiều đối tượng và tác động đến lợi ích của nhiều chủ thể kinh tế, xã hội. Trong đó nguồn kinh phí sự nghiệp Khoa học và công nghệ là chi thường xuyên của ngân sách nhà nước.2 Kinh phí sự nghiệp khoa học & công nghệ Theo TS Hoàng Xuân Long, “Nguồn kinh phí sự nghiệp khoa học và công nghệ (KH&CN) là khoản kinh phí do Ngân sách nhà nước (NSNN) hoặc cấp trên cấp cho đơn vị, hoặc được Chính phủ, các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài viện trợ, tài trợ trực tiếp thực hiện các chương trình mục tiêu, dự án đã được phê duyệt, để thực hiện những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội do Nhà nước hoặc cấp trên giao không vì mục đích lợi nhuận [6]”.
Việc sử dụng nguồn kinh phí sự nghiệp, kinh phí dự án phải theo đúng dự toán được duyệt và phải quyết toán với cơ quan cấp kinh phí. Hiện nay, theo quy định của Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 thì nguồn kinh phí sự nghiệp KH&CN gồm: Nguồn tài chính từ NSNN, nguồn đầu tư từ doanh nghiệp (DN), nguồn đầu tư từ nước ngoài. Nguồn từ NSNN chi cho KH&CN được đảm bảo tỷ lệ so với tổng chi NSNN tăng dần theo yêu cầu phát triển của sự nghiệp KH&CN. Nguồn kinh phí sự nghiệp KH&CN chủ yếu được hình thành từ nguồn NSNN và được phân bổ hàng năm, căn cứ vào nhiệm vụ KH&CN và yêu cầu phát triển KH&CN của từng lĩnh vực, của từng địa phương trong thời điểm nhất định.
Kinh phí sự nghiệp KH&CN phải được sử dụng đúng mục đích theo từng chương trình, đề tài, 7 dự án và được quyết toán theo đúng quy định, tùy thuộc vào từng nguồn hình thành. Chi NSNN cho hoạt động KH&CN ở Việt Nam thuộc nhiệm vụ chi thường xuyên của NSNN (Trung ương, địa phương), được thực hiện theo Luật NSNN (quy định tại Điều 36 và Điều 38). Nguồn hình thành nguồn kinh phí sự nghiệp khoa học và công nghệ Nguồn hình thành nguồn kinh phí sự nghiệp KH&CN chủ yếu từ nguồn Ngân sách nhà nước (NSNN) và được chia thành Ngân sách Trung ương và Ngân sách địa phương. Ngân sách Trung ương bao gồm kinh phí cân đối từ Bộ KH&CN và từ các Bộ ngành và ngân sách địa phương là nguồn được cân đối từ ngân sách của tỉnh, TP trực thuộc Trung ương.1 Nguồn từ Ngân sách Trung ương Nguồn kinh phí sự nghiệp KH&CN từ nguồn Ngân sách Trung ương là nguồn bổ sung có mục tiêu từ Ngân sách sự nghiệp khoa học Trung ương cho ngân sách sự nghiệp khoa học địa phương thực hiện dự án do Trung ương ủy quyền cho địa phương và chi hoạt động chung của chương trình ở địa phương.
ThS Phương Thị Hồng Hà cho rằng, cơ chế hình thành nguồn Ngân sách Trung ương bao gồm: - “Thuế giá trị gia tăng thu từ hàng hoá nhập khẩu; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; thuế tiêu thụ đặc biệt từ hàng hóa nhập khẩu; thuế bảo vệ môi trường thu từ hàng hoá nhập khẩu; các khoản thuế, phí và thu khác từ hoạt động thăm dò, khai thác dầu, khí; - Viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế, các tổ chức khác, các cá nhân ở nước ngoài cho Chính phủ Việt Nam; - Phí, lệ phí do các cơ quan nhà nước trung ương thực hiện thu và phí thu từ các khoản ngân sách Trung ương đầu tư, nhưng chưa chuyển giao cho các doanh nghiệp nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập; - Thu hồi vốn của ngân sách Trung ương tại các tổ chức kinh tế, thu nhập từ vốn góp của Nhà nước; thu từ quỹ dự trữ tài chính của trung ương; thu từ bán tài sản nhà nước kể cả quyền sử dụng đất gắn với tài sản trên đất do các cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc trung ương quản lý; 8 - Thu kết dư ngân sách Trung ương; thu chuyển nguồn của ngân sách Trung ương từ năm trước chuyển sang; thu từ tài sản được xác lập quyền sở hữu của Nhà nước do các cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc trung ương xử lý và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật [3]”.2 Ngân sách địa phương Là nguồn chủ yếu của kinh phí KH&CN Nhà nước, bao gồm: - Kinh phí sự nghiệp khoa học: Bao gồm kinh phí tính theo đầu người: tiền lương, phụ cấp, phúc lợi xã hội, công vụ, mua bán, lắp đặt thiết bị cỡ nhỏ và nghiệp vụ phí. Về thực chất, đó là kinh phí đảm bảo cho hoạt động thường xuyên của các cơ quan NCKH. - Quỹ Khoa học tự nhiên: Được sử dụng để cấp cho các hoạt động nghiên cứu cơ bản (NCCB) và nghiên cứu ứng dụng (NCƯD). Đây là nguồn kinh phí chủ yếu của các viện NCCB, các trường Đại học và Cao đẳng thực hiện công tác NCKH, chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, hiện đại hoá nội dung đào tạo để theo kịp trình độ KH&CN thế giới.
Các đơn vị có thể lựa chọn vấn đề nghiên cứu như những vấn đề có ý nghĩa khoa học quan trọng, có tiền đồ ứng dụng to lớn, đặc biệt là kết hợp có xây dựng và hiện đại hoá đất nước với các điều kiện tự nhiên và đặc điểm tài nguyên trong nước; những vấn đề có ý tưởng học thuật mới mẻ, có căn cứ lập luận đầy đủ, nội dung và mục tiêu nghiên cứu rõ ràng, cụ thể, tiên tiến, có phương pháp nghiên cứu và đường lối kỹ thuật hợp lý, khả thi, trong thời gian ngắn có thể thu được thành quả dự định. Với các điều kiện nêu trên kết hợp với dự toán kinh phí hợp lý và năng lực thực hiện đảm bảo thì có thể được xem xét và cấp kinh phí thực hiện. - Kinh phí hỗ trợ phát triển KH&CN: Đó là kinh phí hỗ trợ dùng cho sản xuất thử sản phẩm mới, thí nghiệm trung gian và cho các vấn đề NCKH lớn, đặc biệt cần thiết. Hạng mục kinh phí này chiếm khoảng 1/2 tổng kinh phí của ngân sách dành cho KH&CN.
Hiện nay, mức chi kinh phí hành chính dần dần được giảm bớt, đồng thời áp dụng chế độ hợp đồng đấu thầu, nhận thầu, uỷ thác cho ngân hàng giám sát sử dụng và căn cứ vào quy định của hợp đồng để thu hồi tiền vốn phải hoàn trả. - Kinh phí xây dựng cơ bản trong KH&CN: Do Nhà nước duyệt cấp, căn cứ vào phương thức đầu tư cơ bản: Xây dựng mới, mở rộng cơ sở nghiên cứu, cơ sở thí nghiệm trung gian và mua bán lắp đặt máy móc, thiết bị trong xây dựng cơ bản. 9 - Quỹ phát triển KH&CN của Nhà nước, Bộ, ngành hay tổ chức, doanh nghiệp: Tùy theo từng loại quỹ có các quy định và phạm vi sử dụng khác nhau. Loại quỹ này chủ yếu dùng tài trợ cho các nghiên cứu KH&CN lớn, sản xuất thử sản phẩm mới, tư vấn về quyết sách KH&CN của địa phương hoặc ngành, các hạng mục phổ biến mang tính mẫu mực và các hạng mục KH&CN trọng điểm.
Nguồn chủ yếu của các loại quỹ này là từ NSNN, phần giảm bớt của kinh phí sự nghiệp KH&CN được tính toán để từng bước giảm xuống, tiền vốn bồi hoàn sau khi sử dụng quỹ từ ngân sách địa phương hay từ tỷ lệ phần trăm được phép trong sản xuất kinh doanh. Quỹ cũng tiếp nhận cả kinh phí quyên góp của các doanh nghiệp, đoàn thể và bạn bè.