CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẤT ĐAI, GIÁ ĐẤT, ĐỊNH GIÁ ĐẤT VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN THU NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG 1. Khái quát về đất đai và giá đất 1. Khái niệm, vai trò và đặc trưng của đất đai a. Khái niệm Khái niệm phổ biến nhất về đất đai được Hội nghị quốc tế về Môi trường ở Rio de Janerio, Brazil, 1993 đưa ra định nghĩa như sau: “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó như: khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước, các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm vá khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn động thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nước hay hệ thống tiêu thoát nước, đường sá, nhà cửa.
Tại Việt Nam theo Điều 54 Hiến pháp năm 2013 Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định ”Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật” Khái niệm về đất đai cũng được ghi nhận tại Khoản 2 Điều 4 Thông tư 14/2012/TT-BTNMT của Bộ TN&MTnhư sau ”Đất đai là vùng đất có ranh giới, vị trí, diện tích cụ thể và có các thuộc tính tương đối ổn định hoặc thay đổi nhưng có tính chu kỳ, có thể dự đoán được, có ảnh hưởng đến việc sử dụng đất trong hiện tại hoặc tương lai của các yếu tố tự nhiên, kinh tế – xã hội như: thổ nhưỡng, khí hậu, địa hình, đại mạo, địa chất, thủy văn, thực vật, động vật cư trú và hoạt động sản xuất của con người.” Từ những khái niệm cơ bản trên có thể khái quát đất đai là một loại tài nguyên tự nhiên, là một nguồn lực của một quốc gia. Đất đai không chỉ bao gồm mặt đất còn bao gồm cả tài nguyên dưới đất và tất cả mọi thứ sinh sôi trên mặt đất và dưới đất không do lao động và con người làm ra. Với nghĩa chung nhất, đó là lớp bề mặt trái đất bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và 1 dưới bề mặt. Với nghĩa hẹp,đó là biểu hiện khối lượng và tính chất của quyền lợi hoặc tài sản mà một chủ thể có thể chiếm hữu đối với đất.
Vai trò của đất đai - Đối với mỗi quốc gia, đất đai là nguồn tài nguyên quý báu, là nguồn của cải cải vô giá, là nơi cư trú của con người, là cơ sở cho mọi lĩnh vực sản xuất vật chất, là cơ sở để vạn vật sinh trưởng, làm nền tảng cho sự tồn tại, phát triển. Đất đai không thể tự sinh ra thêm và là một nguồn tài nguyên hữu hạn nhưng nhu cầu sử dụng lại không bao giờ mất đi mà chỉ tăng dần theo sự phát triển của loài người. - Đất đai tham gia vào tất cả các hoạt động của đời sống kinh tế, xã hội. Đất đai là địa điểm tạo lập của các thành phố, làng mạc, các công trình công nghiệp, giao thông, vận tải.
Đất đai là cơ sở cho các ngành sản xuất có thể hoạt động giúp con người làm ra của cải vật chất nhằm duy trì cuộc sống.Đất đai trong từng ngành cũng có những vai trò khác nhau, tùy vào mục đích sử dụng và tính chất riêng của ngành: là nguyên liệu cho các ngành xây dựng như gạch ngói, gốm sứ.; là cơ sở địa điểm xây dựng hạ tầng cho các ngành phi nông nghiệp; làđối tượng lao động và công cụ, phương tiện lao động cho các ngành nông – lầm nghiệp. Ngoài ra đất đai con tham gia vào các ngành sản xuất của xã hội như là một tư liệu sản xuất đặc biệt. - Đối với mỗi quốc gia đất đai nắm giữ ba vai trò chính: Thứ nhất, đất đai là sản phẩm của tự nhiên, quyết định cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Một thực tế rõ ràng, rằng nếu không có đất đai thì sẽ không có bất kỳ hoạt động sản xuất nào; cũng không có môi trường, điều kiện sống cho động thực vật và cả con người trên trái đất.
Thứ hai, đất đai tham gia vào các hoạt động của xã hội, đời sống kinh tế. Trên đất đai, người ta xây dựng những công trình kinh tế, xã hội, giao thông, thuỷ lợi,. phục vụ cho đời sống và sản xuất. Thứ ba, đất đai là nguồn của cải, tài sản cố định để tích lũy hoặc đầu tư.
Đất đai như một thước đo về sự giàu có của mỗi quốc gia; con người qua các thế hệ xem sự tích lũy, chuyển nhượng đất đai như một sự bảo hiểm về tài chính. Đặc trưng của đất đai (1)Có vị trí cố định: Chúng ta không thể di chuyển đất đai theo ý muốn, vị trí cố định đã quy định tính chất vật lý, hoá học, sinh thái của đất đai đồng thời nó chi phối rất lớn đến giá đất. Các nhân tố cá biệt như nham thạch, thổ nhưỡng, thực bì. của đất đai có thể biến đổi, nhưng đất đai được hoà hợp nhân tố tự nhiên, vị trí không gian của nó là cố định, không thể di dời.
Tính cố định của vị trí đất đai, yêu cầu con người sử dụng đất tại chỗ. Vì vậy mỗi mảnh đất có đặc điểm riêng về vị trí, tính chất, khả năng sử dụng vào mục đích khác nhau, do đó chúng có giá trị riêng. (2)Có hạn về diện tích: Đất đai do lịch sử tự nhiên hình thành, diện tích có tính bất biến. Hoạt động của loài người có thể cải tạo tính chất của đất, cải biến tình trạng đất đai, nhưng không thể tăng giảm diện tích theo ý muốn của con người.
Tính hữu hạn về diện tích đất đai, yêu cầu phải tiết kiệm đất, sử dụng đất có hiệu quả. Diện tích đất có hạn, quỹ đất đai dùng vào các mục đích khác nhau ngày càng trở nên khan hiếm do nhu cầu ngày càng cao về đất đai của việc đô thị hoá, công nghiệp hoá, hiện đại hoá và xây dựng nhà ở để đáp ứng với dân số ngày càng tăng. Diện tích đất đai có hạn không đồng nghĩa với mức cung về đất đai trên thị trường là cố định, sự tăng hay giảm diện tích của một loại đất nào đó trên thị trường đất đai phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, đặc biệt nó được quyết định bởi quyền định đoạt mục đích sử dụng đất của Nhà nước với vai trò là đại diện chủ sở hữu về đất đai. (3)Tính năng lâu bền: Đất đai có tính năng có thể sử dụng vĩnh cửu.
Trong điều kiện sử dụng và bảo vệ hợp lý, độ phì nhiêu của đất nông nghiệp có thể nâng cao không ngừng, đất nông nghiệp có thể quay vòng sử dụng. Tính lâu bền của đất đai, đề ra yêu cầu và khả năng khách quan sử dụng và bảo vệ hợp lý đất đai. (4)Chất lượng khác nhau:Đất đai có chất lượng khác nhau do điều kiện bản thân đất đai (địa chất, địa mạo, thổ nhưỡng, thực bì, nước.) và điều kiện khí hậu tương ứng (chiếu sáng, nhiệt độ, lượng mưa. Tính khác nhau của chất lượng đất đòi hỏi phải sử dụng từng loại đất, nhóm đất hợp lý, để thu hiệu quả sử dụng cao nhất.
Như vậỵ trong quá trình khai thác và sử dụng đất nếu con người biết cách sử dụng hợp lý, thì chất lượng sử dụng của đất được nâng lên hiệu quả. Khái niệm, bản chất, đặc trưng về giá đất và định giá đất a. Khái niệm giá đất Đất đai được coi là nguồn tài sản quý giá, nguồn lực quan trọng nhất của đất nướcđượcNhà nướcquy định nguyên tắc, phương pháp định giá đất, ban hành khung giá đất, bảng giá đất và quyết định giá đất cụ thể. Giá đất là yếu tố quyết định giá trị kinh tế của đất đai, là công cụ để Nhà nước tổ chức sản xuất, phân phối đất đai và thực hiện công bằng xã hội; ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu ngân sách và quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất.
Giá đất tạo nên những tác động tích cực và tiêu cực đến phát triển kinh tế - xã hội. Giá đất là một phạm trù kinh tế khách quan, nó gắn liền với quá trình trao đổi, chuyển nhượng, thế chấp, bảo lãnh, thừa kế.Trong quá trình lao động, sản xuất luôn luôn có quá trình sử dụng đất nên đất đai có giá trị và giá trị sử dụng. Khi đất đai có giá trị và giá trị sử dụng sẽ có quan hệ trao đổi tức là có người mua và người bán và đất đai trở thành hàng hoá. Giá đất được coi là một tiêu chuẩn để đánh giá mức độ, hiệu quả của quá trình sử dụng đất.
Khái niệm giá đất được quy định tại Điều 4 Luật đất đai 2013 ”Giá quyền sử dụng đất (sau đây gọi là giá đất) là số tiền tính trên một đơn vị diện tích đất do Nhà nước quy định hoặc được hình thành trong giao dịch về quyền sử dụng đất. Giá trị quyền sử dụng đất là giá trị bằng tiền của quyền sử dụng đất đối với một diện tích đất xác định trong thời hạn sử dụng đất xác định. Tiền sử dụng đất là số tiền mà người sử dụng đất phải trả trong trường hợp được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất đối với một diện tích đất xác định” Tại đa số những nước có nền kinh tế thị trường, giá đất được hiểu là mặt giá trị của quyền sở hữu đất đai, về phương diện tổng quát giá đất là giá bán quyền sở hữu đất là mệnh giá quyền sở hữu mảnh đất đó trong không gian và thời gian xác định. Ở nước ta đất đai thuộc sở hữu toàn dân, giá cả đất đai là dựa trên giá trị chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho nên về giá cả đất đai ở nước ta không giống các quốc gia khác có chế độ tư hữu đất đai: thứ nhất, nó là cái giá phải trả để có quyền sử dụng đất trong nhiều năm, mà không phải là giá cả quyền sở hữu đất; thứ 4 hai là, do thời gian sử dụng đất tương đối dài nên trong thời gian sử dụng cũng có quyền chuyển nhượng, chuyển đổi, cho thuê, thừa kế, thế chấp, góp vốn tương tự như quyền sở hữu.
Bản chất của giá đất Do đất đai có những đặc trưng mà không loại tài sản nào giống nó nên bản chất của giá đất nói chung cũng khác với bản chất giá của các loại tài sản.