Chương 1 CƠ SO LÝ LUẬN VA TONG QUAN TÀI LIEU NGHIÊN CỨU 1. Khoa học và công nghệ và nguồn lực cho phát triển khoa học và công nghệ 1. Khoa học va công nghệ va hoạt động khoa học và công nghệ a, Khoa học và công nghệ - "Khoa hoc" (science) là một loại hình hoạt động xã hội đặc biệt nhằm đạt tới những hiểu biết mới và vận dụng những hiểu biết đó vào sản xuất và đời sống trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định. Khoa học là một dạng hoạt động đặc biệt của con người với những đặc điểm riêng về nội dung, về phương thức hoạt động, về quy luật phát triển và chức năng xã hội.
Theo Khoản 1 điều 2 Luật khoa học và công nghệ năm 2000 “khoa hoc” được định nghĩa “la hệ thống tri thức về các hiện tượng, sự vật, quy luật tự nhiên, xã hội và tu duy ”[13]. Tw dién Bách khoa Việt Nam định nghĩa “khoa hoc là hệ thong tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy được tích lity trong quá trình nhận thức trên cơ sở thực tiễn, được thé hiện bằng những khải niệm, phán đoán, học thuyết ”. Theo truyền thống, hệ khoa học thường được chia thành ba nhánh là khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và khoa học kỹ thuật. Ở Việt Nam, hệ khoa học chia thành: Khoa học tự nhiên và công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn.
Mỗi khoa học đều có phần cơ bản và ứng dụng. Khoa học cơ bản là hệ thống tri thức lý thuyết phản ánh các thuộc tính, quan hệ, quy luật khách quan của lĩnh vực, hiện tượng được nghiên cứu. Khoa học ứng dụng là hệ thống tri thức dua ra những con đường, những biện pháp, hình thức ứng dụng tri thức khách quan vào thực tiễn phục vụ cho lợi ích con người. - Cách đây từ vài chục năm, Anh, Mỹ, rồi Tây Âu bắt đầu sử dụng thuật ngữ công nghệ dé chỉ các kỹ thuật cụ thé bắt nguồn từ các thành tựu khoa hoc, coi các kỹ thuật đó như một sự phát triển của khoa học ứng dụng trong thực tiễn.
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam “Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm ”. Công nghệ còn được hiểu là các phương tiện kỹ thuật, là sự thé hiện vật chất hóa các tri thức ứng dụng khoa học và công nghệ, là một tập hợp các cách thức, các phương pháp dựa trên cơ sở khoa học và được sử dụng vào sản xuất trong các ngành sản xuất khác nhau để tạo ra sản phẩm vất chất và dịch vụ. Khi nghiên cứu công nghệ một số nhà nghiên cứu coi công nghệ bao gồm hai yếu tố: Phan cứng bao gồm máy móc, trang thiết bị. Trong not số trường hợp gọi đó là trang thiết bị kỹ thuật.
Phần cứng này được mua bán, trao đôi trên thị trường như những loại hàng hóa bình thường khác. Phần mềm bao gồm những tri thức, kỹ năng, bí quyết cũng như các công thức hướng dẫn sử dụng, phối kết hợp các thiết bị với nhau. Phần mềm cũng là yếu tố được mua bán, trao đồi trên thị trường. Các thành phan cầu thành công nghệ : + Nhóm các yếu tô về kỹ thuật (Technoware) : bao gồm các trang thiết bị cầm tay hoặc cơ giới hóa; trang thiết bị tự động, trang thiết bị được máy tính hóa và trang thiết bị liên kết.
+ Nhóm các yêu tô thuộc về con người (Humanware): bao gồm những năng lực vận hành và khởi động, năng lực và tái sản xuất, năng lực thích nghi và hoàn thiện và năng lực phát minh sáng tạo. + Nhóm các yếu tổ về thông tin (Infoware): bao gồm các thông tin dữ liệu và bí quyết liên quan đến việc sử dụng thành thạo và khai thác trang thiết bị. + Nhóm các yếu tô thuộc về tô chức (Orgaware): bao gồm những cách thức tô chức nhằm vận hành liên kết các yếu tổ khác của công nghệ. Như vậy, “công nghệ” là sự thé hiện các tri thức của con người trong quá trình sản xuất tạo ra của cải vật chất và dịch vụ cho xã hội.
Công nghệ không chỉ tồn tại dưới dang vật chat mà là tổng thé các yếu tố con người có thể biết được, đạt được, nắm bắt được dưới dang tri thức. * Moi quan hệ giữa khoa học và công nghệ Từ những năm 50 của thế kỷ XX đến nay: Khoa học có bước nhảy vọt về chất, có vị trí dẫn đường và trở thành động lực quan trọng, trực tiếp nhất của sự phát triển công nghệ. Công nghệ đã đóng góp cho sự phát triển của khoa học, cung cấp các phương tiện và công cụ tốt hơn cho nghiên cứu khoa học và có thể ảnh hưởng đáng ké đến sự hình thành của các lý thuyết khoa học mới và bản thân việc sáng tạo ra các phương pháp mới cũng có thé tạo ra những thách thức mới cho các nhà khoa học đi tìm ra các lý thuyết khoa học mới. Song, kiến thức mới trong khoa học lại được ứng dụng dé lý giải, cải tiến các loại công nghệ sẵn có và giúp tạo ra các ý tưởng công nghệ mới, thậm chí giúp dự đoán sự xuất hiện của các công nghệ tương lai.
Như vậy khoa học và công nghệ là mối quan hệ nhân quả, tác động qua lại lẫn nhau. b, Hoạt động khoa học và công nghệ Hoạt động khoa học và công nghệ là hoạt động chuyên biệt nhằm tìm kiếm, phát hiện, lý giải về các hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy cũng như các hoạt động ứng dụng tri thức vào phục vụ sản xuất và đời song cua con người. Luật khoa học và công nghệ đưa ra khái nệm: “Hoat động khoa hoc và công nghệ bao gom nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiễn kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ ”[L3]. - Hoạt động khoa học và công nghệ bao gom nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch vụ khoa học công nghệ, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kĩ thuật, hợp lý hóa sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ.
Trong đó, hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ là những hoạt động quan trọng nhất. - Nghiên cứu khoa học là hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, qui luật tự nhiên, xã hội và tư duy, sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn. Nghiên cứu khoa học công nghệ thường được tiễn hành dưới hình thức là đề tài nghiên cứu khoa học với yêu cầu nghiên cứu rõ ràng và mục tiêu xác định, kết quả của hoạt động này là các tri thức khoa học mới được tìm ra, được khăng định, được chứng minh. - Phát triển công nghệ là hoạt động nhằm tạo ra và hoàn thiện công nghệ mới, sản pham mới.
Phát triển công nghệ bao gồm: triển khai thực nghiệm là hoạt động ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học để làm thực nghiệm nhằm tạo ra công nghệ mới, sản pham mới và sản xuất thử nghiệm là hoạt động ứng dụng kết quả của triển khai thực nghiệm để sản xuất thứ nhằm hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới trước khi đưa vào sản xuất đời sống. Phát triển công nghệ là hoạt động có nghĩa thực tiễn bởi vì nó chính là cách thức để con người ứng dụng các tri thức khoa học vào phục vụ nhu cầu của mình. Nghiên cứu và phát triển công nghệ thường được tô chức thực hiện dưới hình thức là đề tài nghiên cứu và phát triển công nghệ hoặc dự án sản xuất thực nghiệm. - Dịch vụ khoa học và công nghệ là các hoạt động phục vụ việc nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; các hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyên giao công nghệ; các dịch vụ về thông tin, tư vân, dao tạo, bôi dưỡng, phổ biến, ứng dung tri thức khoa học và công nghệ và kinh nghiệm thực tiễn.
Khoa học và công nghệ là nền tảng phát triển kinh tế Trong thời đại ngày nay, công nghiệp hoá — hiện đại hoá đất nước và đời sống xã hội không thể không dựa trên nền tảng vững chắc của khoa học và công nghệ hiện đại. Khi chúng ta nói đến vai trò nền tang và động lực của khoa học và công nghệ trong tiến trình công nghiệp hoá — hiện đại hoá cũng là nói đến công nghiệp hoá — hiện đại hoá dựa trên cơ sở khoa học và công nghệ. Quan điểm này hơn một trăm năm trước Các-Mác đã từng dự báo: “ Theo đà phát triển của đại công nghiệp, việc tạo ra của cải thực tế trở nên ít phụ thuộc vào thời gian lao động va số lượng lao động đã chi phí hơn là vào sức mạnh của những tác nhân được khởi động trong thời gian lao động, và bản thân những tác nhân, đến lượt chúng (hiệu quả to lớn của chúng) tuyệt đối không tương ứng với thời gian lao động trực tiếp cần thiết để sản xuất ra chúng, mà đúng ra, chúng phụ thuộc vào trình độ chung của khoa học và vào sự tiễn bộ của kỹ thuật, hay là phụ thuộc vào sự ứng dụng khoa học ấy vào sản xuất”. Trong thế ky XX, những thành tựu to lớn của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đã và đang day nhanh sự phát triển của lực lượng san xuất, nâng cao năng suất lao động, làm chuyên biến mạnh mẽ cơ cấu kinh tế của các quốc gia, và làm thay đổi sâu sắc mọi mặt của đời sống xã hội loài người.
Bước vao thế kỷ XXI, cả thé giới đang cuốn theo xu thé phát triển của nên kinh tế tri thức. Các nước phát triển đang chuyền dan sang nền kinh tế tri thức với đặc điểm là nền kinh tế biết khai thác, biết phát huy triệt để tiềm năng của chất xám, của những ý tưởng sáng tạo và đặc biệt là tri thức về khoa học và công nghệ phục vụ cho các mục tiêu chiến lược của xã hội. Xu thế này mở ra nhiều cơ hội mới cho các nền kinh tế đang phát triển với điểm xuất phát thấp nhăm định hướng chiến lược phát triển phù hợp với xu thế chung là thu hút và sử dung tri thức khoa học và công nghệ dé tiến hành công nghiệp hoá — hiện đại hoá đất nước.